Logo

Trên lối mùa đi…

Trên lối mùa đi…

 Nguyễn Thế Kiên    KIENLUCBAT

(Hội Nhà văn Việt Nam)

 

          Giữa cái hối hả chiều cuối năm, một nữ sỹ xinh đến ngẩn ngơ cả mùa đông ùa đến thư phòng, chuyện vãn, nàng trao cho tôi tập bản thảo thơ Mùa đi qua phố của Lưu Ngọc Lâm rồi vội vã theo bóng chiều xuôi về tổ ấm của nàng. Tối mùa đông ấy của Hà Nội tôi ngồi đọc bản thảo thơ Lưu Ngọc Lâm, nghe phong thanh đâu đó trong lời của gió, rằng họ Lưu yêu thơ, làm thơ đã lâu, thơ họ Lưu đã in đây đó, nhưng đắn đo mãi, lựa chọn mãi, người thơ họ Lưu này mới cho xuất bản tập thơ đầu tay Mùa đi qua phố, bởi anh chỉ sợ câu chữ thơ mình chưa neo được vào trái tim bạn đọc, nhất là lúc thơ ca Việt Nam đang ồn ào và có phần nhiễu loạn giá trị ở cả miền thực và miền ảo. Thi nhân Lê Đạt bảo: “Làm thơ là làm phu chữ”, cho nên, thời nay, người làm thơ mà cẩn trọng với chữ nghĩa, mà đắn đo với câu từ như họ Lưu đây là hiếm và đáng trọng lắm. Bởi vậy, trong bài viết nhỏ này, chúng ta cùng tiếp cận những điểm nhấn trong ngôn ngữ và tư duy thơ của Lưu Ngọc Lâm trong diện mạo của mùa thơ mới.

          Bước vào không gian của Mùa đi qua phố ấy, ta gặp những vui buồn, những bâng khuâng dìu dịu dâng lên từ cung lặng, ấy là cái tĩnh lặng chắt ra từ phía chiêm nghiệm đầy trăn trở yêu thương của một hồn thơ đọng vào bóng chữ. Trong mùa thơ của họ Lưu, thấy câu chữ thơ ấy vẫn nương náu trong vành nôi tự sự, nhưng nó đã và đang hướng đến với những sáng tạo, gợi mở hiện đại:

Nắng mưa đã bạc vô thường/ Rêu phong mái cổ con đường đi ngang/ Ta nghe bước của thời gian/ Về qua phố nhỏ nhẹ nhàng đâu đây. (Mùa đi qua phố).

          Trên lối mùa thơ đi đầm hương Lục bát, những câu lục bát của Lưu Ngọc Lâm đang tìm cách tuột bỏ cái tự sự đều đặn, quen thuộc của hình thức bằng sự vắt dòng, ngắt nhịp, ngõ hầu tạo nên điểm nhấn và giá trị mới cho thơ:

Trần gian/ nhân ảnh khói sương/ Phận người/ chớp mắt vô thường quá em(Trần gian).

Sự ngắt nhịp của Lục bát Lưu Ngọc Lâm không chỉ để tạo hình thức mới cho thể thơ quen thuộc này, mà sau mỗi lần xuống nhịp kia, đã thấy những đơn vị chữ 6/8 ấy có thêm nội lực để đủ sức mở thêm một chiều cảm xúc mới khi có sự tương tác từ bạn đọc:

Vào chùa/ nghe Phật giảng kinh/ Mới hay/ duyên nợ ba sinh kiếp người.(Ba sinh).

Đọc thơ Lưu Ngọc Lâm thấy cái chỉn chu, bén ngọt của chữ nghĩa, chữ ấy kết tinh từ muôn chìm vạn nổi của kiếp người, chứ dứt khoát không phải là sản phẩm của một cuộc du hí với thi ca:

Người xưa… giờ của người ta/Còn chăng/ Tôi… một màu hoa/ năm nào.(Phượng).

Nào cùng mở riêng một chớm hè, chợt nghe hương lộc vừng quấn quýt vào câu chữ: Đã qua rồi tháng ba mưa/ Lộc vừng quấn quýt lối xưa em về. (Mùa yêu). Có vẻ như cái hương Lục bát Việt vắt dòng đã bước đầu định hình một hệ thống ngôn ngữ thơ riêng của Lưu Ngọc Lâm:

Chiều nghe/ thoang thoảng mùi hương/ Vắt ngang/ tháng Chín vô thường em ơi/ Lại mùa…/ hoa sữa đến rồi/ Tóc hai màu nhớ/ thương đời… thương ta. (Thu xa).

Ngôn ngữ thơ trong hình hài Lục bát vắt dòng kia còn được họ Lưu tẩm đẫm làn hương ngọt ngào của hoa thùy dương, của trái anh đào thành Minxk chín mọng ở xứ xở Bạch Dương từ bên kia bán cầu:

Những ngày/ Tháng Bảy nước Nga/ Thùy dương ven phố nở hoa ngọt ngào/ Dậu thưa/chín mọng anh đào./ Chuyến xe/ dừng bến rẽ vào trường xưa/ Nhà ga…/ dầu dãi nắng mưa/ Con tàu/ ký ức như vừa đi ngang/ Xa xa/ bóng núi mơ màng/ Một vùng/ suối khoáng dịu dàng phố Min. (Thành Min).

          Không gian của thơ Lục bát vốn rộng rãi như lòng người Việt, nó gần gũi dễ cảm, dễ thấu mà đa chiều và biến ảo vô cùng, bởi vậy các thế hệ thi nhân Việt đã thường chọn Lục bát để dãi dề bày tỏ những vui buồn trong sâu thẳm cõi người:

Gối đầu/ lên những dở dang/ Buồn cho/ ngày tháng lang thang cõi người/ Thà rằng/ như hạt mưa thôi/ Rớt trên/ tượng đá mồ côi cũng đành. (Mưa đêm).

Thơ bây giờ nhiều, người Việt thời nay chỉ cần mở smatphone lên là chạm vào thơ, trong số ấy đa phần là thơ Lục bát, nhưng để rèn đúc nên được những đơn vị chữ hiện đại, ám ảnh, gợi mở rồi đặt vào khuông Lục bát của cha ông như Lưu Ngọc Lâm đang làm thì không có nhiều:

Đường xa/ thân xác mỏi mòn/ Phù vân/ cõi tạm, biết còn bao thu?/ Lá khô/ Gói nắng ngẩn ngơ/ Thương ta/ lạc giữa đôi bờ sương khuya. (Lá khô).

Đấy, ngôn ngữ thơ Lưu Ngọc Lâm ngỡ cứ bâng khuâng, hững hờ mưa nắng thế, ngỡ cứ mênh mang, lãng đãng mây gió thế, vậy mà sau dáng chữ ấy là phận người, phận chữ hiển hiện hình hài trong dâu bể phù sinh:

Thôi thì/ một chút/ vu vơ/ Hạ xưa/ đã hết/ tình thơ/ giao mùa/ Thu sang/ lá rụng phố mưa/ Giọt buồn/ khép mắt/ hững hờ/ đi ngang. (Vu vơ).

Tôi yêu cái cách lập ngôn, lập tứ ấy trong thơ anh, dẫu nhịp điệu kia để nguyên hay vắt ra, xắt ra bao nhiêu cũng được, miễn là câu chữ ấy chở được những nỗi niềm người, miễn là thơ ấy cảm thông và chia sẻ những thăng trầm của cõi yêu thương này, ấy là đại quý:

Phố dài/ cơn gió xôn xao/ Chiều gom/ ngày cũ gửi vào nơi em/ Lang thang/ tìm bước chân quen/ Gặp hoa/ bách hợp ai đem sang mùa. (Tháng Tư). Lưu Ngọc Lâm cứ sáu tám thế, chỗ vắt dòng, chỗ để nguyên, nhưng cái hình tướng của Lục bát chả lẫn vào đâu được:

Tiếng đàn nhịp phách so dây/ Đưa ta về với Phủ Dầy ngày xuân/ Lượt là tài tử giai nhân/ Du chơi, cầu lộc chen chân bên đồi/ Bổng trầm giá hát Cô Đôi/ Hồn thiêng lắng giữa đất trời yêu thương. (Khúc hát chầu văn).

          Khép lại mấy dòng luận về tư duy và ngôn ngữ thơ của Lưu Ngọc Lâm trong Mùa đi qua phố. Ngẫm lại, từ buổi khai thiên lập địa đến nay, phàm đã là thơ sinh tự thành Nam của trấn Sơn Nam Hạ thì phần lớn là đầy đặn hơn ở cái mạch Lục bát, có phải vậy nên họ Lưu cũng nhờ cái mạch quê hương ấy mà tư duy và ngôn ngữ thơ trong Mùa đi qua phố vừa truyền thống, gần gũi dễ thấu cảm, lại vừa hiện đại và gợi mở. Tư duy và ngôn ngữ thơ ấy là những tín hiệu tích cực từ một hồn thơ.

          Giờ đây, Mùa đi qua phố đã chính thức hòa vào dòng chảy thi ca hiện đại của thành Nam hôm nay, trước dấu chấm hết của bài viết này, ta lại vô tư đặt xuống một niềm hy vọng. 

K.L.B

Hà Nội, 15/01/2018