Logo

Trái tim của lửa

Vũ Tuấn Anh và Trái tim của lửa

(Nhà văn Phạm Thanh Khương)

         Tôi luôn nghĩ đó là cái duyên của đời. Ngay từ khi nghe anh em văn chương nói chuyện có ông Đại tá, Bí thư Đảng ủy một đơn vị sản xuất của Tổng cục Hậu cần mê thơ và rất hay làm thơ. Phải thú thật là, khi chưa đọc thơ Vũ Tuấn Anh, Bí thư Đảng ủy của đơn vị sản xuất giày dép, quân hàm quân hiệu, sau này là lương khô, rồi nồi niêu, xoong chảo, bát đũa, quân trang, quân phục.. nghĩa là lính thợ thuộc Tổng cục Hậu cần, tôi nghĩ: Suốt ngày chỉ thị, nghị quyết với đi thị trường còn đâu thời gian để đến với thơ. Thương trường như chiến trường. Làm lãnh đạo đơn vị kinh tế trong quân đội, không nắm chắc nguyên tắc, không nhanh nhạy, tỉnh táo có khi “ăn đủ” với lối làm ăn chụp giật ở bên ngoài. Ấy thế rồi Vũ Tuấn Anh in bài thơ đầu tiên “Thì thầm đường quê” trên báo do tôi phụ trách. Cứ “túc tắc” thế, Vũ Tuấn Anh cũng kịp cho ra đến 5 tập thơ. Từ “Thì thầm đường quê”, “Quan họ xin đừng”, “Nhặt” cho đến “Mắc nợ tháng tư”, “Cược với thời gian”. Và bây giờ là tập thứ 6, “Trái tim của lửa”.

          Vì gần như theo sát với những sáng tác của Vũ Tuấn Anh nên có lẽ, tôi cũng biết được đôi điều về con đường thơ, nhất là sức bền của anh trên con đường văn chương. Với Vũ Tuấn Anh, dường như cái gì anh đều có thể đưa vào thơ được. Làm chính trị, người đời thường nghĩ khô khan, ấy thế mà với Vũ Tuấn Anh, nó nhẹ nhàng và cũng rất thơ. Đó cũng là nét rất riêng của Vũ Tuấn Anh.

         Trong lần ra thăm Trường Sa, bắt gặp cảnh đảo, Vũ Tuấn Anh có ngay cảm tác.

Chỉ toàn đá với bê tông

Cải xanh tốt, lá mơ lông kín giàn

                              (Ghi ở đảo Đá Lát)

        Hay như:

Giàn bí thấp thoáng hoa

Mấy mái gà nằm ổ

                             (Chiều Trường Sa)

         Chính cái chân chất, thật thà mà thơ ấy đã làm cho câu thơ của Vũ Tuấn Anh gần gũi hơn với lính, dễ hiểu hơn với lính, cảm thông hơn với những người lao động quốc phòng và cũng rất đậm chất lính.

         Cũng trong chuyến đi ấy, khi tham gia với lính đảo liên hoan văn nghệ, vốn người sinh đất quê Kinh Bắc, vùng quê quan họ. Diễn tả lại cảnh sinh hoạt bằng thơ của mình, Vũ Tuấn Anh cũng tả rất thực, đầy chất lính đảo xa nhà. Sự mộc mạc ấy đã diễn tả đúng tâm trạng của lính đảo với “nỗi nhớ tóc dài” đến độ phải đóng thế để làm duyên. Nếu không trải qua thời gian lính, khó ai có thể hiểu được tại sao lính đảo vất vả là thế mà vẫn yêu đời đến thế. Và đấy mới chính là lính đảo.

Trẻ hơn đóng liền chị

Hát đối cùng liền anh

Nón quai thao tròng trành

Mắt lúng la lúng liếng

Cũng miếng trầu cánh phượng

Têm từ lá bàng vuông

Têm từ bao nhớ thương

Gửi đất liền xa thẳm

                                          (Lính Trường Sa hát quan họ)

         Là lính nên viết nhiều về lính. Đương nhiên. Nhưng ở Vũ Tuấn Anh còn là một nỗi niềm của người lính với quê hương, nơi sinh thành, nơi những kỷ niệm, ký ức của một thời tuổi trẻ.

Hương thơm vương trên môi

Chia tay em đêm ấy

Qua nhiều vụ gặt, cấy

Còn dâng đầy men say

                         (Bắt gặp hoa chanh)

         Với quê hương, có lẽ Vũ Tuấn Anh cũng như bao người lính khác, trong tâm khảm luôn hiện hữu một nỗi nhớ thường trực. Ở đó là cha mẹ, gia đình, bạn bè, là những gì gắn bó với cuộc đời. Nhưng ở đó là tảo tần, lam lũ đã trở thành “hành trang” của người lính Vũ Tuấn Anh.

Rét già, úng, hạn bao phen

Mồ hôi trộn đất lấm lem bấy lần

                              (Trước đồng lúa chín)

         Cái tảo tần lam lũ ấy trở thành nét người dù có ra nơi phồn hoa phố hội. Câu thơ cứ rưng rưng nỗi niềm.

Theo chồng phố thị em ra

Chẳng quên mình vốn đã là nhà nông

Hình như em hiểu lòng chồng

Nên mang luôn cả hương đồng đi theo

                                          (Hương quyến rũ)

         Nhưng có lẽ, chính cái lam lũ tảo tần ấy đã làm nên cái duyên cho cuộc đời, làm gốc của người lính Vũ Tuấn Anh.

Có ai bị trói mà mong

Tôi đây tự nguyện trói trong dịu dàng

                                              (Dịu dàng)

          Cũng vì là người lính, cán bộ chính trị nên Vũ Tuấn Anh có sự nhạy cảm riêng và hiểu tâm sự, nỗi niềm của người lính. Những mất mát hy sinh là không thể bù đắp. Nỗi đau hậu chiến luôn day dứt, trăn trở với không chỉ đời sống mà nó còn là nỗi ám ảnh với người còn khoác áo lính. Nhưng đó không phải là sự ám ảnh làm khiếp sợ mà nó là lời cảnh tỉnh về những cuộc chiến, lời tố cáo về tội ác chiến tranh.

Một đứa con
Dị tật
Hai đứa con
Dị tật…
Bốn đứa con
Sinh ra không trọn vẹn người…

                           (Chuyện người cựu binh)

         Viết về nỗi đau chiến tranh, Vũ Tuấn Anh có những câu rưng rức lòng người. Với người lính, không còn gì đau hơn nhưng cũng không có hạnh phúc và tình yêu nào lớn hơn khi có một tình yêu như thế. Đau thật đau mà tình cũng thật tình.

Mỗi lần mang áo định phơi

Hít hà một lúc lại thôi cất vào

Chị lo bất chợt mưa rào

Và e, khô sẽ…hư hao mất mùi

                                               (Phân vân của chị)

         Là người cầm bút, lại là cán bộ chính trị, trước những biến đổi của cuộc sống, Vũ Tuấn Anh cũng như tất cả những người cầm bút khác đều trăn trở và nghĩ suy. Không né tránh, không tô hồng mà sự thẳng thắn chất lính đã lên tiếng. Nó là nỗi lo, là những trở trăn mà người lính tự đặt ra câu hỏi, là lời cảnh tỉnh về hiện tượng xã hội thực đang diễn ra hằng ngày. Nó không mang tính phổ quát mà nó là sự cảnh tỉnh với những gì đang xảy ra.

Hôm nay
ở nghĩa trang, tôi mơ hồ lo một điều có thật
trong bao người quỳ trước mộ chiều nay
 Ai tri ân?
 Ai muốn cầu may mà tìm đến nơi này?

(Tản mạn ở nghĩa trang Hàng Dương)

         Với người lính đã có gần 40 năm quân ngũ, mang quân hàm đại tá, Bí thư Đảng ủy của một đơn vị, trong tâm hồn của mình, Vũ Tuấn Anh luôn mang trong mình ngọn lửa. Đó  là ngọn lửa của người lính, ngọn lửa ấy sẽ và còn cháy mãi, như chính lời tâm sự của Vũ Tuấn Anh.

Trong lồng ngực nhà binh

Là trái tim của lửa.

                             (Trái tim anh)

          Đúng là trái tim của lửa. Cả tập “Trái tim của lửa”, Vũ Tuấn Anh dành nhiều công sức viết cho ngành hậu cần quân đội. Trên mỗi lĩnh vực công việc trong ngành, Vũ Tuấn Anh đều dành tâm sức để viết. Đó là sự tri ân của người lính với các thế hệ đi trước, với nhiệm vụ và chức trách đã làm nên một Vũ Tuấn Anh hôm nay. Có lẽ thế, Vũ Tuấn Anh không quá chăm chú vào sử dụng các thi pháp hay đổi mới ngôn ngữ, chủ yếu sử dụng cách nói chân chất, mộc mạc của người lính. Đây là chủ ý của Vũ Tuấn Anh dành cho tập “Trái tim của lửa”. Tập thơ “Trái tim của lửa” của Vũ Tuấn Anh là tập hợp “nhặt” từ sổ tay thơ khi anh bước chân vào làm lính Hậu cần, nó cũng là sự tri ân đối với người lính thợ, công nhân viên quốc phòng, nơi mà anh đã gắn bó cuộc đời quân ngũ hướng tới kỷ niệm 70 năm thành lập ngành Hậu cần quân sự. Ấy là theo Vũ Tuấn Anh tâm sự. Nói là thế, trong ngôn ngữ thơ của Vũ Tuấn Anh không chỉ có sự chân chất với cách nói cách nghĩ của lính thợ mà ở đó anh cũng sử dụng cách nói, cách cảm với những thi ảnh, thi hình của câu quan họ, nơi đã sinh ra và lớn lên.

         Có một lần, ngồi với nhau nói chuyện văn chương. Tôi hỏi thật Vũ Tuấn Anh, công việc quản lý đã choán hết thời gian rồi thì lấy đâu ra thời gian mà viết? Rất thật lòng mình, và cũng đầy chất lính, Vũ Tuấn Anh mà rằng. Có đôi lúc đang đi kiểm tra hay chỉ đạo ở đơn vị. Bắt gặp điều gì đó, ngôn ngữ cứ thế tự nhiên hiện về. Lúc ấy vớ cái gì là chép vội lại sợ khi về rảnh rỗi lại quên. Ngành Hậu cần “đi trước về sau”, vất vả cũng lắm mà người ngoài nghĩ sướng cũng nhiều. Thôi thì, cách tốt nhất là lấy ngôn ngữ của thơ để nói vậy.

         Tập thơ của người lính viết về người lính, chỉ cần thế thôi đã đủ. Bởi cái gốc của thi ca, dù có ảo diệu ngôn ngữ đến đâu mà không có tình thì cũng khó đậu được lại lòng người. Đó có lẽ là dụng ý của Vũ Tuấn Anh dành cho tập thơ này, như chính tên “Trái tim của lửa”./.