Logo

Tản mạn về Ngũ hành và việc cải vận

Tản mạn về Ngũ hành và việc cải vận

 Đồng Lĩnh – Nguyễn Thế Kiên

 

  1. Ngũ hành nạp âm

     Theo cổ nhân thì Ngũ hành là 5 nguyên tố cơ bản để sinh ra vạn vật. Ngũ hành gồm Thủy, Mộc, Hỏa , Thổ, Kim. Chúng tồn tại và tác động vào cuộc sống qua những quy luật sinh khắc rất cụ thể:

      Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy

      Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.

Từ quy luật sinh khắc của Ngũ hành, mà người xưa mới chia chúng thành 6 trạng thái tồn tại cho mỗi hành (như hành Hỏa thì có Sơn Đầu Hỏa, Sơn Hạ Hỏa, Thiên Thượng Hỏa, Phúc Đăng Hỏa, Lư Trung Hỏa, Tích Lịch Hỏa rồi áp vào 60 năm (1 hoa giáp). Như vậy trong 1 hoa giáp 60 năm là: 5 hành x 6 trạng thái = 30 năm, nên người ta cứ áp 2 năm chung 1 hành (30 x 2) thì vừa chẵn 60 năm. Ngũ hành này gọi là Ngũ hành nạp âm. Khi xem mệnh số, người ta thường nói: Anh này mệnh Kim, hay chị kia mệnh Hỏa là nói về cái Ngũ hành nạp âm này! 

       Từ ngũ hành nạp âm ấy, nhiều học thuyết, nhiều trường phái lấy nó làm cơ sở để điều chỉnh, cải vận cho con người thông qua màu sắc của các vật dụng liên quan đến mỗi số mệnh. Vài mươi năm trở lại đây, khi mạng internet ảnh hưởng sâu rộng vào cuộc sống, thì việc xem tuổi gì, mạng gì, hợp màu gì, khắc mạng gì, kỵ màu gì chỉ cần vài nhát gõ smartphone là có kết quả ngay. Thường thì cứ tương sinh tương hợp là mần, tương khắc, tương hại là bỏ ngay. Không chỉ áp dụng Ngũ hành sinh khắc trong việc chọn màu sắc đồ dùng cho bản thân, nhiều đôi uyên ương, nhiều mối quan hệ định hợp tác làm ăn, nhưng vì thấy khắc Ngũ hành nạp âm mà chia tay trong nuối tiếc…

      Xã hội Việt Nam trong thời kinh tế thị trường này, song song với khoa học kỹ thuật, thì những kiến thức cổ ấy đang ngày một được phục hưng và ứng dụng mạnh mẽ vào cuộc sống. Từ làm ăn, nhân duyên, nhà cửa, thi cử, học hành… đều thấy sự hiện diện những quan hệ sinh hóa hợp khắc của Ngũ hành nạp âm mà chúng tôi đang đề cập.

      Để quý vị rõ thêm về vấn đề này, trước khi chúng tôi đưa ra những thiển ý của mình để bàn về Ngũ hành, xin cùng xem bản chất và thuộc tính của Ngũ hành qua những kiến giải của tiền nhân. Trong Âm Phù Kinh của Hoàng Đế (một ấn bản của Đạo Lão) ra đời từ mấy ngàn năm trước, đã thuyết giảng rất hay về Ngũ hành. Đoạn trích dưới đây là lời Kinh của Âm Phù Kinh và sự kiến giải, bình chú của học giả Nhân tử Nguyễn Văn Thọ (1921 -2014):

      Thiên hữu Ngũ tặc, kiến chi giả xương.

      天 , .

     Ngũ tặc là Ngũ Hành, là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Trời dùng Âm Dương Ngũ Hành để sinh vạn vật, người nhân Âm Dương Ngũ Hành mà sinh trưởng. Nhưng khi Ngũ Hành đã xuống Hậu thiên thì không còn hòa hợp mà lại sinh khắc lẫn nhau. Mộc coi Kim là tặc hại, Kim coi Hỏa là tặc hại, Hỏa coi Thủy là tặc hại; Thủy coi Thổ là tặc hại; Thổ coi Mộc là tặc hại.

    Tuy nhiên Ngũ Hành cũng còn có Điên Đảo Ngũ Hành. Chiều này Đạo Lão gọi là Nghịch Thi Tạo Hóa, Điên Đảo Ngũ Hành.

     Ta thấy: Kim vốn khắc Mộc, nhưng Mộc nhờ Kim mà trở thành Khí Cụ; Mộc vốn khắc Thổ, nhưng Thổ nhờ mộc mà sinh Vinh; Thổ bản khắc Thủy, nhưng Thủy nhờ Thổ mà không chảy lai láng; Thủy vốn khắc Hỏa, nhưng Hỏa nhờ Thủy mà không bị Khô Táo; Hỏa vốn khắc Kim nhưng Kim nhờ Hỏa mà trở nên Sáng Láng. Hiểu được như vậy, thì Ngũ Tặc sẽ thành Ngũ Bảo, và Ngũ Hành chỉ còn là Nhất Khí, sẽ Hoàn Nguyên Phản Bản, Hiểu vậy chẳng Vinh Xương hay sao?

     Ngũ Tặc tại Tâm, thi hành ư Thiên, Vũ Trụ tại hồ thủ, vạn hóa sinh hồ thân.

    五 心,施 , , .

    Con người bẩm thụ khí Ngũ Hành trong thân, nhưng Tâm mới chính là chủ của Thân, Thân chỉ là nhà ở của Tâm. Cho nên ngũ hành thật sự là ở nơi tâm. Mà Tâm thì lại phân ra Nhân Tâm (lòng người) và Đạo Tâm (lòng Đạo, lòng Trời).

    Nếu Nhân Tâm mà làm chủ, thì Ngũ tặc sẽ phát ra thành Ngũ Vật là: Hỉ Nộ Ai Lạc Dục.

    Nếu Đạo Tâm mà làm chủ, thì Ngũ tặc sẽ biến thành Ngũ Đức là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nếu hiểu đầu đuôi Ngũ Hành là như vậy, thì sẽ để cho Đạo Tâm chỉ huy để mỗi ngày mỗi tiến, tiến mãi tới Trời. Như vậy Vũ Trụ tuy lớn nhưng không thoát khỏi lòng bàn tay ta, Vạn vật biến hóa cũng không ra ngoài Thân ta. Chúng ta sẽ toản thốc Ngũ Hành, Hợp Hòa Tứ Tượng, và chuyện Liễu Tính, Liễu Mệnh cũng không khó.

       2. Ngũ hành của Nhật chủ (can ngày sinh)

      Đọc lời Kinh của Âm Phù Kinh và đoạn bình giảng trên đây của Nhân tử Nguyễn Văn Thọ, chắc hẳn chúng ta có thêm những kiến giải về sự vận động của Ngũ hành trong vũ trụ và trong mỗi con người. Trở lại với việc áp dụng sự sinh khắc của Ngũ hành vào cuộc sống hôm nay, thì có thể nói trong ngành Mệnh lý học, thì khoa Tứ Trụ Bát Tự là khoa áp dụng triệt để và phân tích chi tiết nhất những tác động của Ngũ hành lên vận mệnh của con người. Khoa Tứ trụ xuất xứ tại Trung Quốc, đến đời nhà Đường thì phát triển rực rỡ bởi hai học giả là Lý Hư Trung và Từ Tử Bình, vì vậy mà người ta còn gọi nó là Tứ trụ Tử Bình.

    Tứ trụ gồm: Trụ giờ, Trụ ngày, Trụ tháng, Trụ năm, đó là 4 dữ liệu cơ bản của con người khi được sinh ra là giờ, ngày, năm, tháng sinh, mỗi dữ kiện được biểu thị bằng 2 chữ, tổng số sẽ là 8 chữ (Bát tự). Các thuộc tính của Ngũ hành tàng ẩn bên trong Bát tự, sẽ tạo nên những mối quan hệ sinh hóa, khắc hợp, vô cùng phức tạp. Việc người ta luận giải, rồi tìm cách chế hóa, điều tiết, nhằm tạo ra sự cân bằng của Ngũ hành trong Bát tự, mục đích là để cải tạo số phận của con người. Hay nói một cách vắn tắt thì đó là việc tìm cách để cân bằng Ngũ hành trong Tứ trụ.

      Thí dụ như: Sinh 0h30 ngày 29/09/2019, thì Bát tự sẽ là: giờ Giáp Tý, ngày Kỷ Tỵ, tháng Giáp Tuất, năm Kỷ Hợi. Các chữ trong bát tự kia chính là Thiên can và Địa chi với thuộc tính Ngũ hành cụ thể như sau:

      a, Ngũ hành của Địa chi

Hành thủy: Tý –  Hợi

Hành Mộc: Dần – Mão

Hành Hỏa: Tỵ – Ngọ

Hành Thổ: Thìn – Tuất – Sửu – Mùi

Hành Kim: Thân – Dậu

      b, Ngũ hành của Thiên can

Hành Thủy: Nhâm – Quý

Hành Mộc: Giáp – Ất

Hành Hỏa: Bính – Đinh

Hành Thổ: Mậu – Kỷ

Hành Kim: Canh – Tân.

      Trong Tứ trụ thì Trụ ngày là vô cùng quan trọng. Đặc biệt là Can của ngày sinh, đấy chính là Nhật chủ (Bản mệnh) của đương số. Mọi tác động sinh, khắc, phù trợ hay chiết giảm của Ngũ hành từ các trụ khác và các năm tháng trải qua trong đời đối với Nhật can chính là cơ sở của việc luận giải Bát tự.

       Thí dụ ngày sinh là Bính dần, thì Nhật chủ là Bính hỏa. Người nghiên cứu Bát tự sẽ nghiên cứu xem Bát tự của mệnh Bính hỏa kia có Thân vượng hay nhược, và hệ ngũ hành cứu giải ra sao để có sự điều tiết (dụng thần) bằng Ngũ hành cho phù hợp. Bát tự hướng đến sự cân bằng của Ngũ hành để mệnh số tồn tại và phát triển, nên trong Bát tự mà có Thân vượng hay Thân nhược đều là không hợp lý. Thế nên, việc điều tiết, cải mệnh qua Ngũ hành, phải được tính toán và cân nhắc vô cùng phức tạp. Giả như người có Thân là Hỏa vượng kia, thì hành gì trong Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản làm Thân ấy vượng, tìm được nguyên nhân rồi, lại tìm hành nào mạnh mẽ nhất, hợp lý nhất để làm giảm cái Hỏa vượng của Thân trong số mệnh kia? Có thể dùng Thủy để diệt bớt Hỏa, hay dùng Kim để Hỏa phải khắc chế Kim mà Hỏa bớt nóng? Hay dùng Thổ để làm tiêu sức nóng của Hỏa? Chỉ nguyên việc cân nhắc để tìm được phương án đã là cả một vấn đề phức tạp vô cùng, nên nói thì đơn giản trong vài mươi dòng ấy, nhưng thực tế thì trùng trùng núi cao vực sâu ẩn trong mấy điều sinh khắc, hợp hóa của cổ nhân để lại.

      Bởi vậy nên, khi sử dụng Ngũ hành để mong cải vận, dùng hành nào, màu sắc nào, tượng gì, theo ngành nghề gì để tốt cho số mệnh, tất không thể dễ dàng áp dụng bằng cách làm cho vượng sinh cái Ngũ hành nạp âm (cứ 2 năm một Hành) như rất nhiều người đang áp dụng hiện nay. Nếu muốn tìm hành vượng, hành sinh có cơ sở, để điều chỉnh, cải thiện số mệnh của mình, thỉ nên tìm hiểu kỹ hoặc gặp những người am hiểu về Bát tự Tử Bình, rồi áp dụng chế hóa sau khi đã phân tích, cân nhắc và tính toán cẩn thận các dữ kiện từ Tứ trụ của mình!

      3. Bàn thêm về cải vận của con người

      Cổ nhân dạy: Nhất mệnh, nhì vận, tam phong thủy, tứ âm đức, ngũ tri thức.

      Năm điều ấy nôm na hiểu rằng số phận một con người có thể được tạo nên hoặc được thay đổi bằng 5 yếu tố: 1: số mệnh, 2: thời vận, 3: Phong thủy, 4: Phúc đức, 5: Học vấn và tri thức. Trong đó, Số mệnh là cái được mặc định cho cả 1 đời người, còn thời vận là từng giai đoạn của cuộc sống, người xưa bảo: Số mệnh tốt chưa hẳn đã bằng Vận tốt… Rồi còn những yếu tố khác nữa, như cái phúc đức của tổ tiên cha mẹ, cái phúc đức hàng ngày chúng ta sống thiện ích để tạo ra, ấy là âm đức. Rồi cái hiểu biết và tri thức để chúng ta nhận ra điều tốt, điều xấu, phân biệt được cái lành, cái dữ để biết hành xử thế nào cho hợp đạo trời, đạo người, để biết cách làm việc và kinh doanh hiệu quả hơn. Việc cải vận chính là tác động vào 5 điều này trong vận trình của một con người.

     Xem việc cải vận như thế, thì việc sử dụng quần áo, đồ dùng cá nhân màu gì, đi xe màu gì, sơn nhà màu gì, xung hợp với mạng nào, tuổi nào cũng chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ quá trình cải vận của một con người. Việc cải vận không thể là Thế thiên hành đạo, mà là Thuận thiên hành đạo, men theo đạo trời, theo tự nhiên mà đi thì sẽ thấy sự thay đổi tích cực từ cuộc sống, chứ đâu phải chỉ cần cái màu xe hay màu áo, mà làm thay đổi được mệnh số của một con người.

Đ. L – N.T.K

Chợ đêm Lĩnh Nam,

Hà Nội, mùa thu Kỷ Hợi, 2019