Logo

Lời trái tim và người cựu binh, Đại tá Lê Minh Tý

LỜI TRÁI TIM VÀ NGƯỜI CỰU BINH, ĐẠI TÁ – LÊ MINH TÝ

Nhà văn Phạm Thanh Khương (Lù Pò Khương)

        Nếu theo đúng thứ bậc trong quan hệ, tôi phải gọi anh là thày. Khi tôi đang còn là sinh viên, anh lúc đó đã là giáo viên của khoa Khoa học xã hội và Nhân văn. Thế rồi, gần như con đường anh đi thì phía sau luôn có tôi đi theo. Nghĩa là sau này anh chuyển về Bộ Tư lệnh là cán bộ lãnh đạo của phòng Tuyên huấn thì tôi cũng đi “sát” như thế. Cũng vì lẽ, tính anh thoải mái, gần gũi và sống dân dã, vì thế, anh với tôi thành mối quan hệ anh em.

        Ngày còn là sinh viên, tôi cũng đã biết anh là người yêu văn chương. Tất nhiên cái thuở “gạo châu củi quế”, báo chủ yếu là mấy tờ báo Đảng và Quân đội, còn sách, cực khan hiếm, đến ngay tài liệu giáo trình, giáo án chủ yếu đánh máy, cuốn nào quan trọng lắm mới được in rô-nê-ô. Nhưng vì lúc đó phong trào làm báo tường rất phát triển, một năm phải đến vài ba lần tổ chức nên thông qua các cuộc thi ấy mà ai có “chút” năng khiếu về văn chương có cơ bộc lộ. Cũng vì qua các cuộc làm báo tường ấy mà tôi biết được “máu” yêu thích văn chương của anh.

        Bẵng đi một thời gian dài khi anh giữ cương vị lãnh đạo, còn tôi cũng vì công việc chuyên môn nên dường như vốn “văn chương” gác lại. Sau này, đến khi tôi về làm báo, lúc ấy, anh là lãnh đạo của phòng Tuyên huấn Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, thường gửi xuống tòa soạn bài viết mang tính chính luận; thi thoảng anh mới gửi đôi ba bài thơ. Những bài thơ của anh vẫn thế, dung dị, gần gũi và luôn mang tính thời sự, hơi thở của cuộc sống trong từng con chữ. Và rồi, gần đây, tôi được biết, 2 năm anh đã ra mắt 2 tập sách, trong đó có một tập thơ “Mắt lá” (Nhà xuất bản Văn học) và một tập thơ và văn “Gửi nhớ trong đêm” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và bây giờ là tập sách thứ 3 và là tập thơ thứ 2 có tên “Lời trái tim”.

        Xuyên suốt tập “Lời trái tim” anh vẫn sử dụng rất nhiều hình thức thể hiện, từ thơ Đường luật cho đến tự do, lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn, xướng họa; nghĩa là, thể loại nào truyền tải, diễn tả được cảm xúc là anh viết. Chủ đề thơ của anh cũng rất đa dạng, phong phú, cập nhật đến từng chi tiết của cuộc sống và luôn mang sức nóng của “thời tiết” đời sống vào trong thơ. Chất thơ của anh vẫn thế, chủ đạo là tình cảm, suy ngẫm, ngợi ca… tùy theo sắc thái của tình cảm. Ngôn ngữ anh sử dụng cũng rất chân chất, gần gũi đời sống, như cách nói hằng ngày kiểu nói vần điệu của người lao động. Tuy ngôn ngữ là thế nhưng cái chất “triết học” của thời làm thày Khoa học xã hội và Nhân văn của Đại học Biên phòng (nay là Học viện Biên phòng) trên bục giảng luôn là sức nặng cho câu chữ. Sự hàm chứa sâu xa của câu, chữ tạo nên một thi ảnh, thi hình đặc trưng rất riêng. Cũng vì thế mà thơ anh luôn có sức liên tưởng và sự suy luận, chiêm nghiệm cho bạn đọc.

        Là người lính có hơn 40 năm quân ngũ, hình ảnh đậm nét nhất trong thơ anh là người lính. Bài “Khúc ru chiều” là bài ngợi ca Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất hào sảng mà cũng đằm thẫm tình người. Bài “Màu áo cha mang” viết về người cha – người lính thân yêu chan chứa niềm tự hào. Bài “Nơi ta đến” viết tặng Đoàn an dưỡng 18 vẫn lung linh một cảnh sắc và tình người. Với những bài thơ anh viết về kỉ niệm một thời lửa đạn trên tuyến lửa Khu 4 mà trực tiếp tham gia bảo vệ trên tuyến biên giới Nghệ An lại như một hoài ức về quá khứ thấm đẫm yêu thương và máu lửa. Mỗi câu thơ của anh, bạn đọc có thể cảm nhận được dòng máu chảy trong lửa cháy. Cả cuộc đời anh dành trọn cho lực lượng Công an Nhân dân vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng, trải qua tất cả những lần lực lượng chuyển giao, chứng kiến biết bao thế hệ người lính, những tâm sự, trăn trở cùng những vất vả quá trình xây dựng và trưởng thành, hồi ức của anh mang tiếng lòng của niềm tin, sự gửi gắm đến các thế hệ nối tiếp.

        Viết về mẹ, thơ của anh đằm lại, ấm áp và ăm ắp những nỗi niềm cùng ký ức tảo tần vất vả. Anh thường không đi vào những chi tiết mà thiên về tạo hình trong ngôn ngữ. Nói về những lo toan của người mẹ, anh dành trọn vẹn trái tim yêu thương dồn lên thi ảnh.

Sông Thiếp nhà quê xanh dải lụa

Gội nắng chan mưa gọi chiêm mùa

(Màu áo cha)

Hay

Lưng còng dáng mẹ dẻo thon

Xênh xang đất nước vẹn tròn núi sông

(Đòn gánh)

        Chỉ như những nét chấm phá mà cô lại tất cả những tảo tần lam lũ, những vất vả lo toan của người mẹ, người vợ lính khi chồng con đi chiến trận xa nhà.

        Có những câu, khi đọc lên cứ rưng rức nỗi niềm, khóc mà không thể khóc, nghẹn lại mà bật lên.

Mây trời tình mẹ nước non

“Nhá cơm rau má” nuôi con đoạn ngày

        Để rồi, khi trưởng thành, đến lượt mình trở về nép bên vạt áo mẹ thì mẹ đã đi xa, chỉ gặp lại:

Mưa gầy nhè nhẹ hương bay

Mẹ ơi, rau má chen dày lối đi…

(Rau má bên mộ mẹ)

        Với quê hương, bạn bè, đồng lứa, công việc, thơ anh như khúc ca tự cất lên, khi trầm khi bổng, lúc thiết tha lúc nhớ nhung mà cứ đau đáu phận kiếp con người. Để đứng lại với đời, phận kiếp con người như hạt mầm khi bật nở “Quả vặn mình xe vỏ/Mầm non hé lộ ra” (Gieo mầm). Ở đó cũng là nơi cất giữ những kỉ niệm. Kỉ niệm về một thời nỗi nhớ chưa phai, gặp lại cảnh vật mà người đâu có thấy. Nỗi đau nhưng không phải  là tiếng thở dài mà lại ẩn chứa niềm tự hào về nhau.

Trong lành dịu ngọt sông xanh đó

Bạn tôi đi mãi, mãi… Không về

(Bến sông quê)

        Có những cảnh mà có lẽ rất khó có thể thành thơ. Không. Với anh thì không có sự bất lực của ngôn ngữ. Sau những năm dài “Nhọc nhằn gian khó sống đời nghiệp binh”, nay trở về với mảnh ruộng xưa, dường như anh trở về với tất cả bình tâm, như quy luật muôn đời “hết quan toàn dân kéo về”.

Đường cày lúc lắc duyên nghề

Chân tay lấm láp… vẫn mê mệt đồng

(Đồng quê tôi ngày ấy)

        Điểm nổi bật trong “Lời trái tim” không chỉ là khả năng khái quát cái phổ quát thành ngôn ngữ để tạo nên những liên tưởng đến người đọc; không phải chỉ là những âm hưởng của niềm tự hào hay những lắng đọng của ký ức cho người đọc soi rọi. “Lời trái tim” còn mang đến cho bạn đọc cách quan sát, cách sử dụng ngôn ngữ thi hình. Khi nói về sự vất vả của người lính trên các tuyến biên giới, chỉ là những nét chấm phá nhưng tất cả hiện lên rõ nét và trung thực đến từng chi tiết nhỏ mà không kém phần lung linh của thi ảnh.

Bến sông tiếp cổng trời

Trập trùng xanh nguồn cội

Đường 7 đau oằn khúc

Bản làng hơi thưa vắng

Đồn thửa dư mưa nắng

(Nhớ Tha Do)

        Nói về nỗi truân chuyên vất vả của người phụ nữ, cũng chỉ là đôi dòng như nét phác thảo của bức tranh mà đã mang lại một hiệu ứng toàn mỹ với người đọc.

Chân mòn lối cũ bờ tre

Cơm vơi áo hụt ủ ê nhọc nhằn

Đêm buông gầy rạc bờ tre

Đong đầy vạt áo trăm bề ngổn ngang

(Gánh hàng rong)

        Ngôn ngữ trong “Lời trái tim” đúng như tên của tập sách, nó là ngôn ngữ của trái tim. Trong tập thơ, tuy không có bài nào mang tựa đề “Lời trái tim”, song cả tập thơ với chủ đề, nội dung phong phú, sâu sắc đều toát lên cảm xúc ngọt ngào chân chất của trái tim người lính được thể hiện xuyên suốt, chủ đạo. Đúng là người lính đã qua bao năm tháng đời binh nghiệp thấm đẫm gian nan. Nay trở về với đồng đất quê hương, mỗi bài thơ bản thân cứ tự cất lên thành tiếng hát. Ngôn ngữ mở, gần gũi mà vẫn lắng, vẫn tình; mộc mạc, chân thành mà khúc chiết, thanh tao; cứ chan chan một tình yêu đằm lại, một khát khao trong đồng vọng những mong muốn, ước mơ, một sự trải nghiệm đến tận cùng của cuộc sống.

        Nói về thơ anh, Báo Người Hà Nội đã viết: “Thơ Lê Minh Tý khơi gợi, chân thực viết từ đời sống từng trải, chiêm nghiệm lẽ đời. Cảm xúc ngọt ngào xoay quanh trục dẫn ở từng giai đoạn đã hóa thành thi hứng đậm chất trữ tình, chất lính… Bởi vậy, thơ anh tạo được sắc thái riêng, không pha tạp. Nét truyền thống và đương đại hòa quyện, đan kết một cách dung dị, trong trẻo”.

        Nếu có ai hỏi hay gọi anh là nhà thơ, anh chỉ cười và bảo: Thơ ca gì mình. Mình chỉ là người thấy vui thì viết, thấy đẹp thì ghi lại, thấy nghĩa thì tri ân. Anh nói thế, bởi anh là người lính. Thơ là tấm lòng, là “Lời trái tim” của anh – người cựu binh, Đại tá Lê Minh Tý vẫn cháy khôn nguôi với đời, với người. Một trách nhiệm công dân khi từ đường quan anh trở về với biển – làm dân. Anh vẫn là anh – Lê Minh Tý như tôi hằng biết, một trái tim của lửa, cứ cháy, cứ sáng từ tâm thức vào con chữ để làm nên một “Lời trái tim” gửi gắm cuộc đời. Mọi cái rồi sẽ qua đi chỉ tình còn ở lại. Chỉ thế thôi anh, đã là sự ghi nhận và trân trọng lắm rồi./.