Logo

Là chim thì phải hót – Lê Đình Thực

LÀ CHIM THÌ PHẢI HÓT

(Lê Đình Thực)

Tôi trở về làng dự đám cưới Nhất, thằng cháu ruột. Ba chục năm xa quê, tôi mới về được vài lần. Xong việc là đi ngay nên sự thay đổi ở quê nhà, tôi biết không rõ ràng lắm. Suốt chặng đường, tôi không hình dung được nơi quê cha đất tổ của mình thay đổi ra sao sau một thời gian dài.

Không hình dung được cũng phải, vì từ ngày bước chân đi, làng Yên Bình cũng như cả xã nghèo lắm. Nhiều nhà còn đứt bữa mùa giáp hạt. Nghèo hay đi liền với đẻ nhiều. Một dạo Yên Bình còn có tên – làng Mắn Đẻ. Gọi mãi rồi quen. Hồi ấy, tư tưởng cần con trai để nối dõi tông đường ăn sâu trong nếp nghĩ của số đông người dân làng xã.

***

Thời trước, học hết cấp hai, trước cảnh nhà khó khăn, tôi không thi ra cấp ba ngoài huyện mà đi bộ đội luôn. Huấn luyện xong, đơn vị tôi sang vùng tây Căm-pu-chia giúp nước bạn tiễu trừ bọn tàn quân Pôn Pốt. Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ cũng là lúc quân tình nguyện Việt Nam rời xứ sở Chùa Tháp. Khi phục viên, nghĩ đến quê nhà đất chật, người đông, làm ăn gian khó, tôi ở lại huyện biên giới của tỉnh An Giang lập nghiệp, lấy vợ. Đường sá xa xôi, mưu sinh vất vả, tôi chỉ về quê khi không thể. Cha mẹ ốm đau rồi mất sớm, anh em cũng vì cảnh khó mà phiêu dạt tứ phương. Cuộc sống vất vả, nhiều lần, nhà ở quê có việc, vợ chồng chỉ gửi quà về để tiết kiệm một khoản tiền đi lại.

Giờ thì phần mộ cha mẹ, tổ tiên được xây cất chu đáo. Mỗi thằng cháu út cưới vợ nữa là hết lượt, tôi lên kế hoạch ở lại một tuần thăm nơi mình được sinh ra và lớn lên. Giờ đã sang tuổi già, bà vợ bị bệnh tai biến, đi khỏi nhà chỉ vài ngày với tôi là việc không còn đơn giản nữa.

Thằng Nhất đã ngoài ba mươi. Ở Yên Lâm, tuổi này mới lấy vợ là hiếm. Trong xã, có người mới ba sáu tuổi đã lên chức ông ngoại. Vài chục năm về trước, quê nhà nghèo đói triền miên. Yên Lâm biệt lập với các xã còn lại của huyện bởi con sông Thương. Sang xã bên, đi phố huyện phải qua đò. Còn làng Yên Bình của tôi lại cách biệt với phần còn lại của xã bởi con suối lớn. Ngày ấy nghề duy nhất của dân trong xã là ruộng vườn, đồi rẫy. Ruộng chỉ những mảnh như chiếc chiếu, rẫy thì vài vụ là đất cằn cỗi, sỏi đá nổi lên trên. Đói nghèo bám riết. Làm ăn vụng về mà sinh nở thì chẳng gặp lực cản gì. Đất chỉ chừng ấy còn người mãi sinh sôi. Trên nhiều lần cử đoàn y tế về đặt vòng tránh thai. Số đông chị em mách nhau, người biệt lên rừng, rẫy, kẻ đi thăm họ hàng. Người thì tính rốn thêm thằng cu nữa cho có bạn. Có nếp phải có tẻ. Trời sinh voi thì sinh cỏ. Những bà mẹ đồng ý làm vì tuổi đã cao hoặc đẻ tám, chín lần rồi! Trai gái chỉ học cho biết chữ rồi từ biệt sách vở. Việc bỏ học từ cấp 2, đặc biệt là cấp ba cũng có phần muốn sang xã phải qua suối, ra phố huyện học, phải qua đò. Thành ra trai gái mới nứt mắt đã nô nhau lấy vợ lấy chồng. Chuyện tôi kể có lẽ chỉ xảy ra ở làng Yên. Một thời gian dài, các mẹ ở làng quen tìm cái tên xâu xấu đặt cho con. Họ nhắc nhau, đặt tên xấu mới dễ nuôi! Thời văn minh cần những cái tên đẹp. Thành ra trong xóm trùng tên nhau lia lịa. Để khỏi lộn, tên con gọi kèm với bố hay mẹ.

Đẻ nhiều, học ít, nghề ngỗng chẳng đâu với đâu nên suốt thời gian dài, làng luẩn quẩn như bầy vịt trong đầm. Trẻ con cứ sòn sòn tòi ra và lớn lên nhu đàn vịt cỏ! Thày mẹ tôi mười lần sinh, nhưng chưa thể nhất xóm. Vô địch trong làng là mười bốn con, ấy là chưa nói đến một đứa không nuôi được. Tôi là con thứ mười đặt tên là Út cho tiện. Vì tên Mười trong làng đã nhiều rồi. Buổi chiều không đi học, lũ con nít làng lùa trâu lên đồi. Đói quá, chúng tôi chỉ nghĩ đến tìm cái gì để ăn. Đào dế để nướng, mãi cũng hết. Rắn mà thấy lũ trẻ làng chỉ còn cách luồn đi thật nhanh. Có bữa tôi ăn phải quả độc, nôn thốc nôn tháo. Làng đói như ngan ấp, nhất là ngày giáp hạt. Nhớ lại, những hôm nhà có giỗ, tôi lùa trâu lên lưng đồi. Từ trên cao nhìn xuống, khói luồn qua mái tranh, tôi hít hà ngửi thấy mùi xôi mẹ đồ ở nhà bay chập chờn trước mặt.

Ngày ấy chưa có điện lưới, đèn dầu thắp tiết kiệm nên lù mù. Ánh trăng rằm trở nên vô cùng kì diệu. Một lần, loa của thôn thông báo từ chiều: Tối nay, các em thiếu nhi mặc quần áo đẹp đến sân làng để đón Trung thu, liên hoan văn nghệ. Các anh chị trên xã đoàn về phát kẹo. Bánh kẹo thì sướng rồi. Không khí rôm rả từ lúc nửa chiều. Hát hò? Nhảy nhót? Quên mẹ đi. Đến sân kho là để được ăn kẹo thỏa thuê! Ruột nóng lên. Chắc là những đứa khác cũng nghĩ giống tôi thôi. Tưởng tượng trước mặt mình là một khay lớn bánh kẹo, trăng rằm soi xuống làm cho những chiếc bánh kẹo sáng lên lấp lánh, nước miếng trong miệng tôi cứ thế chảy tong tong. Chả hiểu sao mặt trời hôm nay cứ mãi ở lưng trời, không chịu rơi xuống chân núi. Bồn chồn quá đi thôi. Chẳng nghĩ tới bị mẹ đánh, tôi phá lệ, lùa đàn trâu về chuồng, xong lao ra suối tắm cho sạch. Về nhà, lục tung lên mà chẳng cái áo nào ra hồn. Quần thì ngắn, túi bị thủng, áo dây đầy mủ mít, mủ sung. Chậc, trời tối, lũ nít chen chúc như bầy vịt cỏ, chả ai để ý đâu.

Hôm ấy, trẻ làng đến đông lắm. Vì lớn nên tôi phải ngồi cuối hàng. Đến lượt mình, chỉ còn hai cái kẹo làm bằng bột sắn. Định vứt quách đi, nhưng tiếc, tôi rời sân kho, thất thểu về nhà, vừa đi vừa trệu trạo nhai hai cái kẹo cứng.

Đêm khuya rồi mà tôi vẫn không ngủ được, trong đầu lởn vởn ý nghĩ, một ngày nào đó có tiền, mình mua cả thúng bánh kẹo ngồi giữa sân dưới ánh trăng ăn cho bõ khát. Mấy ngày sau, trong miệng tôi, mùi vị của hai cái kẹo sắn trong miệng vẫn thơm ngầy ngậy.

Mấy Trung thu sau, xã đoàn vẫn về thôn phát kẹo, tôi không đi nữa. Phần đã lớn, phần không dễ quên vụ hai cái kẹo sắn năm nào.

Thời gian trôi, bao nhiêu biến đổi, bao nhiêu nước chảy qua cầu, bao vui, buồn được mất đưa đẩy tôi. Nước suối của làng, khoai sắn trên đồi đã nuôi tôi lớn thành người lính chiến đánh dạt tàn lính Pôn Pốt. Ra quân, làm quản lí năm chục thợ xây dựng chuyên làm các cây cầu nhỏ vào loại có uy tín vùng đất phía Nam của Tổ quốc. Còn thằng cháu tôi, từng học Sư phạm, ra trường dạy hợp đồng lay lắt bảy năm, đỏ mắt chờ biên chế. Vận may không tới, nó theo nghề thợ xây. Nhờ nhanh việc, tính toán tốt, cháu lập tổ thợ riêng, dần dà thành lập công ty. Hiện công ty của cháu thuộc con số ít đơn vị tư nhân thành đạt của huyện Long Vân.

Lâu rồi, đang tận trời Nam xa xôi, tôi biết qua tin người nhà: xã được đưa vào diện 135, thuộc vùng khó khăn. Tôi mừng vì nhờ đó, trẻ em đến trường được miễn học phí, ốm đau được cấp thuốc men. Nhà nước làm cho điện, đường, trường, trạm… Nhưng đâu chỉ mỗi cái lợi. Dân xứ mình quen tư duy tiểu nông, sẽ dựa dẫm… Những lần về thăm quê ngắn ngủi, tôi thấy cái nghèo từ năm xưa vẫn nhì nhằng đeo bám. Từ khi được cho “cần câu” và “cá” nữa, dân xã tôi vốn có tiếng là lười, càng có lí do để nhác. Xót hơn, thói lười, muốn được nghèo lâu nằm cả trong đầu cán bộ xã. Rồi tự khi nào, một bộ phận đàn ông sinh thói rượu chè, lười lao động, biếng nghĩ, tụ tập chuyện vặt cả ngày. Đàn bà thì quanh năm bận bầy trẻ lít nhít.

Nhưng rồi bầu trời cũng quang đãng sau cơn mưa. Thế hệ thằng cháu tôi nhạy bén hơn lứa cha, chú. Chúng có học hơn và không cam chịu đói nghèo. Từ khi Nhà nước bắc cho cây cầu sang xã, nhu cầu ra phố huyện đi học tăng vọt. Ngày trước trong xã chỉ vài người qua đò sang huyện đi học. Con số ít ỏi đó có thằng Nhất nhà tôi. Nó là đứa sáng dạ. Biết nhà mình thiếu, xóm quê nghèo, nó chí thú học hành, luôn nuôi ước mơ cháy bỏng: đậu Đại học Sư phạm để mai này có cơ hội dạy con em quê mình. Nhưng vận may không tới, Nhất dứt khoát không bỏ tiền chạy việc như có người gợi ý. Hồi ấy chưa có phong trào đi các công ty như bây giờ. Đi làm ăn xa thì còn cha mẹ già. Cháu bỏ dạy hợp đồng, làm thợ. Nhờ thông minh sáng chí mà chỉ hai năm cầm dao xây, cháu đủ kinh nghiệm tách tổ thợ riêng. Năm năm trước nó thành lập công ty, có tài khoản riêng và đều đặn nộp thuế cho Nhà nước. Nhất thành thần tượng cho các cô gái trong vùng. Nhưng thằng cháu chí thú làm ăn, chưa nghĩ đến chuyện vợ con. Chỉ đến khi cha mẹ già như trái cây sắp rụng, cu cậu mới lấy vợ.

 

***

Đám cưới thằng cháu là giám đốc có số má trong huyện nên quan khách rất đông. Tổ chức tại nhà hàng ở phố, sang trọng chẳng kém chốn thị thành. Cháu dâu xinh đẹp. Nghe nói nó mê chàng trai giàu bản lĩnh mà quyết lấy bằng được, dù bố mẹ cấm cản. Được biết ngoài huyện, cháu có cả tá chàng trai nhà mặt phố, bố làm to săn đón, hứa tặng cho nàng ô tô hạng sang.

– Chú ở lại thêm ít ngày nữa để cháu đưa đi thăm mấy công trình công ty trúng thầu. Lớn nhất là Công viên thiếu nhi của huyện, trị giá bảy tỉ. Thành lập mới dăm năm nhưng công ty cháu hiện đã đứng đầu về vốn điều lệ. Nộp thuế cho Nhà nước nhiều nhất trong hơn hai chục công ty tư nhân toàn huyện. Đại hội vừa rồi, các đại biểu dự nhất trí bầu cháu là Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tư nhân huyện nhà.

– Thế, việc làm ăn của cháu cứ suôn sẻ thế à? Tôi hỏi.

– Đâu đơn giản thế ạ. Chẳng có con đường nào toàn trải hoa hồng, chẳng có thành công nào mà không trả giá. Có được dự án tiền tỉ ở huyện nhiều khi nhọc hơn leo lên đỉnh núi. Thời trước, phải khéo, chịu chung chi, biết “mềm” khi quyết toán công trình. Đủ thứ “hành”. Việc cạnh tranh, cướp thầu dù không muốn nhưng đã xảy ra. Ở hoàn cảnh của mình, cháu tính toán thật chắc, không cho phép mắc sai lầm. Vốn chưa dồi dào, ít có cơ hội làm lại. Nhiều năm qua, cháu chọn cách đưa ra quyết định chính xác. Thành công là mục tiêu nhưng thất bại cũng thu được bài học. Cháu xem mình như con sư tử ở hoang mạc châu Phi kia, hoặc săn được mồi, hoặc là chịu đói đến chết. May, các anh bên huyện bây giờ có trách nhiệm hơn, chứ mấy năm trước, các giám đốc tư nhân đến khổ. Các sếp mắc bệnh tư duy nhiệm kì nặng lắm. Nó như căn bệnh ác tính đã di căn. Không ít lần cháu buộc phải mua việc của người ta bán lại vì các công trình được chỉ định thầu. Có những chỗ chấp nhận lỗ để giữ thợ. Mấy khóa trước, các sếp “quái” lắm. Theo chân sếp, các vị ở phòng, ban trong huyện cũng muốn chấm mút, gỡ gạc. Để có việc thì cần chấp nhận nhiêu khê, buộc phải “mềm”, làm “sân sau” của các sếp. Từ thực tế ấy chú cũng biết vì sao công trình làm cho Nhà nước tuổi thọ chẳng bao nhiêu.

Nhưng dù thế nào, cháu vẫn xác định phải làm ăn tử tế. Những ai còn mang cung cách làm ăn chụp giật sớm muộn sẽ phải thua. Chỉ có đứng đắn thì cháu và công nhân của mình mới ổn định việc. Cháu từng báo cáo với các bác trong Thường vụ, Nhà nước không có tiền, phải cần sức dân. Muốn huyện mình mở mày mở mặt, để bộ mặt phố huyện khang trang, muốn dân tôn trọng các vị, tôn trọng chính quyền thì lãnh đạo huyện phải chọn mặt gửi vàng, hạn chế tối đa những thủ tục rườm rà, bỏ hẳn nạn chung chi, đi cửa sau. Giám đốc Công ty Minh Nhất cam đoan, sẽ làm nên những công trình mà sau này dân và chính quyền khỏi phải tính đến thanh lí vì chất lượng và thẩm mĩ…

Tiếng vỗ tay như pháo nổ. Hôm ấy là có Bí thư tỉnh ủy về, mới may chứ. Có mặt ông ấy thì ghi chép vào biên bản phải chuẩn rồi. Lãnh đạo huyện có mặt, nheo mắt kí. Các sếp huyện kí tá cả rồi, dám quên sao? Phần cháu, đôi lúc cũng thấy mình phiêu lưu. Nhưng như có người nói, thay vì than vãn bóng đêm thì hãy châm lên ngọn đèn. Hay như lời một nhà thơ Thổ Nhĩ Kì “Nếu anh không cháy lên/ Nếu tôi không cháy lên/ Thì làm sao bóng tối có thể thành ánh sáng”. Cũng vì quê mình nghèo lâu quá rồi, oằn mình bởi sự níu kéo trì trệ đã ngàn năm, giờ đây cần người đánh thức. Thế hệ trước đã già, như chú lại ở xa. Chúng cháu phải xắn tay. Chỉ có làm mới tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm.

Nhờ lần ấy, tên tuổi cháu đã bay về tỉnh. Ba công trình trên bốn tỉ ở huyện này được chuyển cho Công ty Minh Nhất cũng có phần từ các bác ngoài tỉnh biết cháu.

Nói thế không có nghĩa là cháu cứ thế vận hành công việc trơn tru. Phải tính toán, ngó nhìn, nhiều khi cần nhường việc cho người khác. Và tuyệt đối, như con sư tử tận Phi châu hoang dã kia, không săn mồi nếu không thuộc lãnh địa của mình. Chơi thế là mình đã góp phần giảm bớt sự trì trệ từng nhức nhối ở nhiều cấp huyện thời nay. Vượt qua những “trái núi” lề thói này cần những cuộc cách mạng. Phần mình, cháu đã hứa với những người có trách nhiệm rồi, ủng hộ lối làm ăn tử tế. Lời có thể ít đi nhưng bù lại việc lại nhiều ra. Thời gian bây giờ là hàng hóa nên phải giảm đi tính toán sai. Chưa kể còn phải tính đến sự lãng phí trong quá trình tìm việc. Vẫn nhiều lực cản mà không thể cứ mắc mớ là lại gõ cửa chủ tịch, Bí thư. Đời mà. Làm ăn mà. Khó tránh hết rào cản. Trước bữa chú về, dù làm ăn nghiêm chỉnh, cháu phải dẫn mấy vị Kho bạc, Phòng Công thương đi “cà phê tay vịn” khi nghiệm thu công trình nghĩa trang liệt sĩ.

Thực lòng, cháu vẫn mê nghề dạy học, cái nghề báo chí hay nói: Cao quí nhất trong các nghề cao quí. Nhưng trong xã hội còn có nhiều nghề cao quí khác. Vả lại, khả năng có, sức trai trẻ mà làm cả chục năm chỉ để mỗi tháng nhận hai triệu, trong khi công việc cũng nặng như trong biên chế. Tại sao phải thế? Cháu không cho phép mình lãng phí tuổi thanh xuân. Số phận đẩy sang nghề xây dựng và cháu cũng yêu nó, lúc nào cũng ước làm nên những công trình đẹp như con báo săn mồi.

Nghề dạy học ngày ngày quen với bảng đen phấn trắng, chuyển sang lao động chân tay, cũng cực. Thợ của cháu có tới bốn người là giáo viên hợp đồng trường xã. Tuổi gần bốn mươi rồi, xin việc ở các công ty trở nên khó. Cái giá của sự cam chịu nặng lắm. Làm thợ, họ hiểu bản thân anh phải như guồng chân con sư tử, không ngừng nghỉ nến muốn sinh tồn được trên đồng cỏ bao la.

Món gì hợp thì chú ăn đi ạ. Thày mẹ cháu một đời bươi đất lật cỏ nuôi một đàn con, giờ hom hem lắm, chả sống được mấy. Là con út, năm xưa, cả nhà dồn sức chỉ mỗi cháu được học cấp ba. Giờ thì giúp  anh chị chăm cha mẹ già, gắng làm nên cái gì đó để khi hai cụ về với tổ tiên, mình thấy yên lòng. Còn cháu, chỉ mới tạo việc được cho bảy chục người, là anh em trong làng, trong xã. Thế là ít. Cũng như cháu thôi, mỗi người trong họ đều thấy xung quanh họ là cuộc sống quen thuộc bao đời. Cho đến giờ, cháu chưa lấy ở nơi khác, mục đích là để quê ta giảm đi gánh nặng đói nghèo, giúp người làng có thể ly nông mà không ly hương. Bằng việc điều hành, sắp xếp công việc ngày ngày, dần dần, cháu nhắc nhở anh em, là con người lo bát cơm, cái nhà để ở chỉ là ngắn hạn, trước mắt. Cần phải học hỏi, nghĩ cho xa, nâng dần trí khôn lên để có thể ứng phó trong thời kì công nghệ số này. Nhưng trước hết cháu phải có năng lượng, sự nỗ lực khổng lồ đã. Để tạo cho công nhân của mình yên tâm, cháu trích một phần lợi nhuận mua bảo hiểm, cả hưu lẫn y tế. Chắc là chú hình dung được niềm vui của họ. Người lao động, nghĩ đến tuổi già, có đồng lương hưu làm chỗ dựa, còn niềm vui nào lớn hơn? Họ chăm chỉ làm việc, vợ con họ, làng Yên này cung kính cháu như ông trời. Việc làm này càng khiến cháu thêm áp lực.

Cháu học Toán ở trường Sư phạm. Sách vở mờ cả mắt mới đỗ đại học. Tiếc là thừa giáo viên, phải rẽ ngang. Cháu cũng có chút khiếu làm thơ, từng đăng nhiều bài ở Tài hoa trẻ, Giáo dục và Thời đại, Tiền phong. Nhưng giờ thì bận đi làm, suốt ngày việc nối việc. Phố huyện sẽ nâng lên thành thị xã nay mai, việc cũng nhiều nhưng không vì thế mà nhẹ sự cạnh tranh.

Chú à, nàng thơ luôn quấy cháu, bận túi bụi, đêm về có hôm rã cả người mà cháu vẫn dành ít nhất nửa tiếng đọc báo Văn nghệ. Cháu mê tờ báo ấy quá. Nhờ chăm đọc sách báo mà cháu ăn nói trôi chảy. Khi đã phải tranh luận thì các anh bên huyện cũng phải nể.

Thôi, chuyện đã dài, chú lên gác nghỉ. Vợ cháu sắp giường chiếu rồi. Những ngày tới, chú sẽ “mục sở thị” một số địa điểm công ty cháu từng thi công. Lúc nào cháu cũng khao khát làm nên một “Cửu Trùng Đài” ở huyện này. Công trình cháu phụ trách thi công sẽ in bóng bên bờ sông Thương, để đời con, cháu, và dân huyện này chiêm ngưỡng, tự hào về năng lực kiến trúc của lớp trước. Đấy là cháu nghĩ thế và lúc nào cũng nuôi khát vọng. Chú cũng là dân xây dựng, biết mà. Cháu xin lỗi vì ca ngợi mình.

Nếu không đặt vé khứ hồi, không vì bà vợ đau ốm thì tôi ở thêm vài ngày nữa để ngắm các nơi cháu mình gửi vào đó tâm hồn, trí tuệ và tình yêu da diết quê hương. Thế hệ trẻ bây giờ giỏi đấy. Tôi là người thợ được coi là lành nghề, nhưng chỉ xây mỗi cầu, cầu nhỏ. Chiều dài mỗi cầy cầu thường trên dưới mười mét, còn cháu tôi, nó đủ sức đọc bản vẽ tòa nhà bảy tầng, làm công viên nhiều tỉ bạc… Trời, cái thằng Đụt mũi dãi, đái dầm, ốm nhách năm xưa, mày giỏi quá, con ơi! Thày mẹ mày mù chữ, suốt một đời cổ cày, vai bừa, ra khỏi xã có khi lạc, sao đẻ ra rồi dạy những gì mà mày giỏi thế, con? Chú phục. Mày lại có tâm khi bỏ tiền mua bảo hiểm cho bảy chục người nghèo trong làng, để làng tôn mày là Thánh. Khá lắm, Đụt à!

Vợ chồng Nhất làm bữa cơm thân mật, mời anh em thợ đến nhà nhân khánh thành nghĩa trang liệt sĩ mới của huyện. Tôi gặp lại cháu con trong làng. Mọi người thân mật vui vẻ. Nhưng hôm nay, thằng cháu Nhất hơi oai, trổ tài hùng biện. Nó đọc thơ cho thợ nghe, những người phơi nắng mưa cả ngày. Họ chả hiểu gì thơ phú văn chương nhưng vẫn nghênh cái mặt như bầy dê nghe ngóng khi trời sắp có mưa, nhìn rất buồn cười: “Chắc là em đợi tôi lâu lắm? Xuân Thái ơi thăm thẳm tận cổng trời/ Từ đỉnh Đông nhìn ra xa hun hút/ Sương bay lưng chừng núi chơi vơi/ Quê miền xuôi, em lên đây dạy học/ Thành người quen của bếp lửa, nhà sàn/ Với nước suối, mây mù, đèo dốc/ Và những đêm mưa nẫu ruột, mềm gan!” “Nhiều năm rồi, em bám trường, bám núi/ Mang trái tim rất mực con người/ Sao em không về quê hay phố huyện? Em trả lời bằng một nụ cười thôi.”

Đây là bài thơ đăng ở báo Tài hoa trẻ, viết về một cô giáo ở huyện ven biển cách ta hơn năm chục cây, đã mười năm bám rừng, bám bản dạy học ở nơi có độ cao hơn một nghìn mét so với mực nước biển,  nơi những ngọn núi quanh năm mây trắng vờn bay. Tháng tới, ta sẽ lên xây lại trường mầm non… Làm thợ không có nghĩa là tâm hồn khô khan, anh em ạ.

Trong số bảy chục con người làm cho Nhất hầu hết là tuổi anh, tuổi chú. Để tìm được việc làm cho anh em, trả tiền lương, đóng bảo hiểm đều đặn thì  giám đốc phải tìm ra việc, thiết kế và đôi lúc phải mua bản vẽ, chỉ đạo thi công… Dự án được triển khai, công trình làm đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng thì người ta mới giao việc mới cho mình. Ngược lại, chất lượng công trình kém, không được quyết toán sẽ vỡ nợ.

Chà, cháu tôi đúng là mẫu người thời hiện đại. Sau buổi liên hoan, thợ xin phép về sớm, mai còn đi làm. Họ hiểu giám đốc trẻ của mình hơn ai hết. Nhất bảo: “Còn hai người, cháu nói thêm để chú nghe, thợ toàn người làng, xã không chỉ dễ mà cũng có cái khó. Khó là anh em dễ ỷ lại tình máu mủ, làng xóm rồi chây lười, không chịu học hỏi, ngại khó, thắc mắc vặt. Tóm lại là tư duy tiểu nông ngàn đời nay níu kéo. Thương họ, ban đầu cháu có phần xuê xoa. Nhưng thời này, làm ăn trì trệ, dựa dẫm không có chỗ đứng, cháu kiên trì giải thích, thậm chí là đuổi việc mười người. Họ bất mãn, lập nhóm thợ riêng, nhưng được vài tháng, ít việc lại xin về với cháu. Đương nhiên, cháu mở lòng. Cháu và năm tố trưởng cùng nhau soạn “bộ luật” cho công ty. Xong, họp bàn dân chủ, khi không có ý kiến khác rồi cứ “hiến pháp” mà vận hành. Hai chục công ty tư nhân ở huyện mới có hai nơi đóng bảo hiểm cho người làm. Chú cũng biết, làng quê mình nghèo, phải nỗ lực cao hơn nơi khác. Lao động, con đường duy nhất giúp đất này bớt nghèo, bớt trì trệ đi. Ba năm nay, đời sống dân xã ta khá lên. Mục tiêu năm tới sẽ xóa diện 135. Người ta bắt đầu trân quí sức lao động, chăm chỉ kiếm tiền. Nạn uống rượu bê tha, bài bạc đã giảm. Ngày mai, chú cháu mình đi khắp làng một lượt, chú sẽ thấy, những cánh rừng xanh tít tắp ngày xưa đã không còn. Đất ruộng, gò thấp bị san để làm nhà hết, vì dân số mấy chục năm về trước tăng vù vù. Cháu mong mình là người tiên phong làm điều gì đó tốt đẹp cho quê hương. Cứ nghĩ cảnh thanh niên khỏe mạnh mà đi lao động chui, thậm chí nhiều người đã bỏ mạng trong container ở trời Tây mà tủi, mà xót. Miền đất hứa của cháu là ngay quê cha đất tổ của mình. Tới giờ, cháu vẫn là người học cao nhất làng nên thực lòng muốn làm nên điều gì đó. Nó cũng là trách nhiệm để báo đáp một phần cho thày mẹ, anh em, làng mạc nuôi cháu ăn học, dạy cháu nên người. Chú ạ, những điều cần nhất cháu đã nói. Cháu tự thấy mình đang cưỡi trên lưng con ngựa chiến, chỉ có thể phi nước đại. Trách nhiệm đặt lên vai. Cũng tự nhiên thôi mà chú, như là lá thì phải xanh, là chim thì phải hót. Mà hót cho lảnh lót, cho vang…”.

 

Bến Sung, mùa thu 2019.