Logo

Ký ức một thời

Ký ức một thời

Nguyễn Hải Yến

Phòng Văn học và Lịch sử Đất Việt

 

Khi ta cầm cây bút

Ta đã có ánh đèn

        Những câu thơ mở đầu bài thơ “Ánh đèn” có lẽ cũng chính là tinh thần xuyên suốt tập thơ “Ký ức một thời” của nhà thơ – nhà giáo Vũ Văn Tấn. “Những nét chữ giăng hàng hàng” suốt gần 180 bài thơ là những lời tự sự, tâm tình, là ý nguyện của ông – người nhất mực yêu người, yêu nghề, yêu thơ – để mỗi dòng, mỗi chữ ấy đều đong đầy tình nghĩa trong kỉ niệm và hồi ức của một đời người.

        Gọi là Ký ức một thời nhưng sẽ là mãi mãi bởi tình yêu thương chưa bao giờ biết cũ trong cả văn chương và cuộc đời này. Tập thơ gồm bốn phần với các chủ đề chính: Quê hương, Nghề thầy, Gia đình…Trong ấy, là những mẩu chuyện về cuộc đời ông được chắt lọc, kết tinh thành vần, thành điệu, thành âm trong từng con chữ, cứ “ánh” mãi lên và sưởi ấm trái tim của những người thân, bạn bè, đồng nghiệp, học trò… đã gắn bó với ông từ những ngày còn gian khó; để nhen lên hy vọng, để thắp sáng yêu thương:

Ôi! Ánh đèn ánh lửa

Lửa hồng cháy tim ta

Hóa trăm ngàn đốm nhỏ

Tỏa sáng khắp trời xa!

         Không cầu kỳ câu chữ, chẳng nặng về cách lập tứ nhưng thơ ông giáo Tấn vẫn đầy nghĩa, đọng tình. Người gắn bó cả đời với bục giảng và công việc “trồng người” như ông vốn không mong gì hơn ngoài sự “thành người” của học trò, mà học trò chính là sản phẩm của sự giáo dục – trực tiếp là những người làm thầy.

Tri thức mở mang trò tấn tới

Trước sau lớp lớp ích cho đời!

(Nghề thầy)

Ở thế hệ ông, nghề thầy giáo đã trải qua những năm tháng đầy gian khổ, phải đối mặt với biết bao khó khăn, nhọc nhằn, đói ăn, thiếu mặc, có những lúc:

Dốc từng bò gạo sang túi bạn

Thân ai cũng thế cả mà

(Cho bạn vay gạo)

Cuộc sống lúc ấy gian nan là vậy nhưng tâm huyết, trách nhiệm với người, với nghề của những người thầy như ông chưa bao giờ phai nhạt:

Đèn dầu lụi bấc mờ giáo án

Dép lốp mòn quai vượt dặm đường

Sự nghiệp trồng người lo giữ đạo

Đường đời rèn đức tránh tai ương

(Nhớ bạn)

Thơ ông ăm ắp cái tình, cái nghĩa bạn bè, đồng nghiệp. Và cũng chính cái tình, cái nghĩa, cái đạo của nghề ấy đã giữ được những tấm chân tình suốt những tháng năm đằng đẵng đời người, đời nghề. Còn gì ấm áp hơn, đáng quý, đáng trọng hơn là cái tình – dù qua bao phong ba bão táp cuộc đời – vẫn vẹn nguyên không hề thay đổi:

Nghẹn ngào tay nắm chặt tay

Hàn huyên bao sự, những ngày đã qua

Tin rằng tình nghĩa mặn mà

Thày trò giữ trọn dẫu xa dặm trường

(Giữ trọn)

Đọc Ký ức một thời, ta như đang chầm chậm cùng ông về miền ký ức. Về để thấy được khoảng lặng thẳm sâu trong trái tim ông là đạo nghĩa hiếu sinh – ơn cha, nghĩa mẹ.

Đất vững cây cối mới bền

Cội nguồn có nhớ mới nên thân người

(Lời tạ ơn)

Trong trang ký ức ấy, có bóng người cha anh dũng âm thầm vào sinh ra tử vì nước, vì dân “Đã từng góp sức được dăm năm/Nội gián vào đồn cực khó khăn” (Cha tôi). Có dáng người mẹ tảo tần “Nội ngoại người thân lo trọn đạo/ Xóm làng bạn hữu giữ yên bề” (Nhớ về mẹ). Người già vốn hay hoài niệm, dưới bóng hoàng hôn, dưới mái tóc trắng chiều thường ứa lên những nỗi nhớ, pha vào chút day dứt của tấm lòng người con về những ngày khốn khó, gieo neo mà cha mẹ đã chiu chắt sớm chiều.

Trong Ký ức một thời, mỗi bài thơ là một lời gửi gắm, là một nỗi niềm mà người thầy giáo già muốn bày tỏ; vừa là nhớ, vừa là thương, vừa là tri ân, vừa là cảm mến. Nghĩa tình như đầy đặn hơn, tròn vẹn hơn trong những trang thơ ông viết về người thân của mình. Đọc thơ ông, ta trân trọng lắm người vợ hiền đã cùng ông đồng cam cộng khổ:

Từ ngày tôi về nghỉ hưu

Bên bà càng thấy mến yêu vô vàn

Tuổi cao bà vẫn hay làm

Còn nguyên cái nết đảm đang thuở nào

(Gấp đôi)

Thương anh, quý em, mừng cho con cháu ngày một trưởng thành – dường như trong trái tim ông giờ chỉ còn thăm thẳm những yêu thương ấy!

Cứ nhẩn nha từng câu, từng chữ từ trang thơ này đến trang thơ khác, ai cũng sẽ tìm được một chút “mình” trong đó. Yêu thương mà, tự đáy lòng ai chẳng có; khác chăng chỉ là cách thể hiện!. Vũ Văn Tấn chọn thơ và ông gửi trọn vào thơ con người ông, tấm lòng ông. Ở đấy có gia đình, có nghề giáo mà ông trọn đời trân quý. Ở đấy có cả tấm tình dịu ngọt của người con dành cho quê hương đất mẹ.

Cũng nơi làng xóm bờ tre

Có sông bốn mặt có đê lượn vòng

Quê hương biết mấy thương yêu

Phù sa kết đọng bao điều dựng nên

(Quê hương Nam Sách)

Lần theo dòng ký ức, hình ảnh quê hương trong quá khứ vẫn hiện rõ mồn một trong trí nhớ ông:

Nơi đây đói rục bao người

Hoàng hôn úa tím cảnh đời từ quê

Bỗng ngày cách mạng Thu về

Đôi bờ nô nức, triền đê rộn ràng

(Cầu Hàn)

Chia sẻ được cùng ông nỗi buồn đau cho những ngày tăm tối, ta lại thấu hơn niềm tự hào của ông khi đất mẹ được hồi sinh

Cảnh làng quê khóm trúc mái đình

Cây đa giếng nước bồng bềnh mây trôi

Lưng trâu chễm chệ bé ngồi

Bông hồng đỏ thắm, già ngồi buông câu

(Tay mẹ tay em)

Người nặng tình là vậy: cảm cảnh – thương người; duy chỉ tiếc – chưa thấy thương mình!

Bước qua cổng làng, chiêm nghiệm được nhiều hơn về cuộc sống, ấy lại nghe trong hơi thở thơ ông có chút gì nằng nặng giống như người ta đang cố để nuốt lại một tiếng thở dài

Nay nước chuyển sang thời mở cửa

Giờ nhà xoay sở kế đi buôn

Kỷ cương bền chặt từ muôn thuở

Nét đẹp ngàn năm liệu có còn?

(Liệu có còn)

Lẽ tự nhiên: có vui – có buồn, có được – có mất. Còn ông – nhà thơ, nhà giáo Vũ Văn Tấn – vẫn âm thầm như chiếc lá:

Nắng mưa năm tháng luôn bền vững

Sương gió ngày đêm vẫn mượt mà

Hóa thân vào đất khi tàn tạ

Lại nguyện dâng cây một món quà

(Lá)

Lá của cây Đời – Lá của cây Quê – Lá của cây Nhà. Chỉ vậy thôi! Ký ức một thời – Dăm điều bày tỏ.

Thơ là đời ông – Đời trong thơ ông. Trọn đạo, trọn tình, trọn ân, trọn nghĩa – trọn một cuộc đời. Sống trên đời, người ta còn mong gì hơn thế!

 

Phòng Văn học và Lịch sử Đất Việt xin trân trọng chia sẻ và giới thiệu Ký ức một thời cùng bạn đọc xa gần!

Tháng 8/2019 – N.H.Y