Logo

Kẻ nằm người ngồi – Nguyễn Thế Hùng

LỜI ĐẦU SÁCH

ĐÂU CHỈ CHUYỆN LÀNG VĂN

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng

 

     Nếu đặt Kẻ nằm người ngồi (2016) bên cạnh Họ vẫn chưa về (2009), theo tôi, sẽ thấy cái nhìn đời sống của Nguyễn Thế Hùng có sự thay đổi rõ rệt: chuyển từ cái nhìn xa đến cái nhìn gần. Vì sao có sự chuyển dịch này trong sáng tác? Dường như quy trình này ở Nguyễn Thế Hùng khác với nhiều nhà văn khác – thường thì khi mới vào nghề họ thường viết về những gì gần gũi mình nhất, sau đó mới có điều kiện nhìn xa trông rộng, khi lưng vốn (vốn sống) đã khá đầy. Theo sự quan sát của riêng tôi thì Nguyễn Thế Hùng nhập làng văn bằng truyện ngắn. Cái “Lộc trời” (tên một truyện ngắn được giải năm 2006 dự thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã cho anh lộc văn. Tiến một bước dài trong nghiệp văn là khi anh ra mắt tiểu thuyết Họ vẫn chưa về (Giải thưởng văn học Thủ đô năm 2010). Cái “cấu tứ” của Lộc trời anh chuyển nhuần nhuyễn vào cuốn tiểu thuyết đầu tay Họ vẫn chưa về. Nguyễn Thế Hùng thuộc số những nhà văn, theo tôi, chỉ viết về những gì mình am tường nhất, viết những gì có thể mở lòng nhất với đời, với người. Điều đó cắt nghĩa vì sao giai đoạn đầu sáng tác cái nhìn đời sống của Nguyễn Thế Hùng là cái nhìn xa, nhìn sâu vào quá vãng, nhìn sâu vào những “trầm tích” của đời sống nông thôn Việt Nam. Vì thế theo tôi, Họ vẫn chưa về mang nhiều tính ẩn dụ. Đọc Họ vẫn chưa về của Nguyễn Thế Hùng, có cái gì đó bảng lảng, phiêu diêu trong chất văn, trong hình ảnh và cả ngôn từ. Giai đoạn đầu sáng tác và trong tiểu thuyết đầu tay, Nguyễn Thế Hùng vẫn còn nặng nợ với miền quê sơn cước, nơi mình sinh ra và lớn lên, vẫn cứ mải mê với những câu chuyện nhuốm màu sắc cổ tích của các bậc ông cha truyền lại, vẫn cứ thấm đẫm trong đầu óc non trẻ cái chất Xứ Nghệ, tài hoa và đa tình. Giai đoạn đầu Nguyễn Thế Hùng viết bằng hoài niệm vì thế mà hình bóng của quá vãng vẫn ôm trùm tác phẩm từ khi hoài thai cho đến khi từng câu chữ hiện hình máu thịt.

     Kẻ nằm người ngồi (nhan đề ban đầu rất thơ – Lối nho nhỏ) ghi dấu một bước ngoặt trong sáng tác của Nguyễn Thế Hùng. Đó là những gì anh tích lũy và nghiền ngẫm kể từ khi anh tốt nghiệp khóa VII, Trường Viết văn Nguyễn Du, Đại học Văn hóa Hà Nội. Ra trường anh lập tức được Tạp chí Văn nghệ Quân Đội mở rộng cửa đón về (cùng về số 4 Lý Nam Đế với anh có Đỗ Tiến Thụy). Anh đã kinh qua chức Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Được bốn năm lại đầu quân về Báo Văn nghệ Công an (người ta nói vui là “Quân của Tướng viết văn Hữu Ước”. Vậy là có ngót chục năm sống giữa làng văn ở những môi trường văn chương khác nhau, Nguyễn Thế Hùng như ai đó nói đã “lặn ngụp” trong bầu khí quyển đặc sệt của làng văn nhiều chuyện vui buồn, bi hài; đầy rẫy những “thâm cung bí sử”, chuyện hậu trường, bếp núc của cái “làng” đặc biệt này đã là một nguồn đề tài vô cùng, vô tận. Lâu nay độc giả mới biết sơ sơ chuyện làng văn qua chân dung bằng thơ của Xuân Sách, qua bút ký tiểu luận của Hoài Anh, Vũ Từ Trang, Trần Đăng Khoa, Di Li,… Nhưng chuyện làng văn gần như còn bỏ ngỏ đối với những tác phẩm hư cấu, nhất là hình thức tiểu thuyết.

     “Cái nhìn gần” làng văn thôi thúc Nguyễn Thế Hùng chọn hình thức tiểu thuyết để thể hiện, vì tiểu thuyết là “một câu chuyện bịa y như thật”. Đây là cái nhìn trực diện, trực tiếp, sát sàn sạt, nói văn vẻ là chạm đến chân tơ kẽ tóc giới cầm bút cũng đang lắm chuyện xì xèo không kém chuyện của giới ca sĩ, người mẫu, cầu thủ bóng đá… hiện thời. Và anh chọn hình thức hoạt kê để kể chuyện làng văn địa phương với tâm thế của người trong cuộc, người can dự. Đây là sự lựa chọn không hoàn toàn ngẫu nhiên như ai đó có thể nghĩ. Nếu như ở Họ vẫn chưa về anh chọn hình thức “cổ tích hóa” chuyện thế sự thì lần này anh chọn hình thức “khuyếch đại thẩm mỹ” tiếng cười để chuyên chở chuyện đời, chuyện nghề. Tiếng cười mang phong vị dân gian.

     Mặc dù được kể từ ngôi thứ ba suốt từ đầu chí cuối, mang tính khách quan, nhưng riêng tôi thấy, Nguyễn Thế Hùng luôn “ướm mình vào nhân vật” mà kể chuyện. Nguyễn Thế Hùng kể chuyện gì? Có hai câu chuyện được kể: Người ta đã trở thành nhà văn như thế nào/ và sau khi trở thành nhà văn/ theo danh hiệu hiện thời/ thì họ làm gì? Thoạt tiên ai cũng nghĩ “biết rồi khổ lắm nói mãi”. Nhưng cứ đọc rồi sẽ lại thấy “biết thêm khổ lắm nói nữa đi”. Con đường trở thành nhà văn được điển hình bằng nhân vật Mận (sau này trở thành nữ nhà văn có bút danh Lâm Oanh). Mở đầu văn nghiệp hình như là hoàn toàn ngẫu nhiên khi phát hiện trong nhà có vật gia bảo là một cuốn sách chữ vuông, khi được dịch ra thì nó là thể truyện. Dường như có sự mách bảo của “thần linh” mà gia đình và bản thân Mận muốn món gia bảo đó phát sáng bằng chính sự lựa chọn sáng suốt khi cô thi vào một trường viết văn danh tiếng ban đầu nổi như cồn. Rồi mong được ước thấy, Mận trở thành nhà văn với bút danh Lâm Oanh. Cô bắt đầu phải chiến đấu với đời, với đồng nghiệp, với nghề văn vốn rất khắt khe lựa chọn. Cô đã vượt qua tất cả không phải bằng tài năng vốn có mà bằng chính “vốn tự có” của mình (!?).

     Làng văn địa phương qua ngòi bút của Nguyễn Thế Hùng như một sân khấu nhỏ, nhỏ nhưng chứa đủ cả bi hài kịch nhân gian, đủ cả ái ố hỉ nộ, tham sân si. Đủ cả các khúc thăng trầm muôn màu muôn vẻ. Trong làng văn địa phương, ngòi bút của Nguyễn Thế Hùng cũng “chạm” đến giới lý luận phê bình khá mạnh và sâu cay, như muốn nhắc chúng ta rằng hệ thống lý luận của chúng ta đang có những khoảng trống, nhiều vấn đề mới đặt ra chưa được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện để theo kịp đà phát triển và hội nhập hiện nay. Thật ra không có chiến tuyến giữa sáng tác và phê bình nếu họ đều là những người có tài, có tâm với nghề chữ. Chỉ có chiến tuyến giữa những kẻ bất tài và cái tâm mờ tối với những tài năng đích thực với cái tâm vằng vặc sao Khuê mà thôi. Nguyễn Thế Hùng kể về các ngón nghề của làng văn địa phương khá cụ thể, thậm chí là chính xác đến từng centimet! Tuy nhiên không sao nếu không trở giọng “đay nghiến” như có ai đó đã làm bằng cách bêu riếu nó. Vì thực ra sự công bằng tuyệt đối là ảo tưởng, đến chân lý cũng chỉ là tương đối mà thôi. Quăng thân vào chốn “trường văn trận bút” là khác nào quăng thân vào chốn gió bụi, chẳng thiếu sự bầm dập, oan khuất, có khi thân bại danh liệt nếu anh không tỉnh táo để có sự tiếp nối và phát triển những điều vốn có của tinh hoa văn hóa dân tộc mà bị ánh hào quang của sự hãnh tiến làm mờ mắt, lạc đường. Chuyện làng văn địa phương qua ngòi bút của Nguyễn Thế Hùng cũng mang tinh thần ấy. Nhưng riêng tôi thấy, tác giả dường như cố nén tiếng thở dài đằng sau từng câu chữ được viết ra. Hình như có một nỗi buồn cố hữu xâm chiếm tâm thế người viết. Và tôi hình dung anh viết Kẻ nằm người ngồi trong cái tâm thế khủng hoảng, hiểu là một sự khủng hoảng phát triển. Đằng sau tiếng cười đậm chất dân gian là tiếng thở dài có vẻ chua xót, đôi khi cay đắng về chuyện đời, chuyện nghề mà tác giả nếm trải. Kẻ nằm người ngồi thể hiện sự trải nghiệm của Nguyễn Thế Hùng trong lộ trình khoảng hơn mười năm đầu sáng tác văn chương.

     Đọc tiểu thuyết Kẻ nằm người ngồi đặt ra các vấn đề về an ninh tư tưởng – văn hóa – rất rõ nét. Muốn có An ninh tư tưởng – văn hóa, trước hết phải có những con người văn nghệ sỹ có tâm và có tài, những con người đến với văn nghệ bằng cái tâm trong sáng và sự cống hiến vô điều kiện, hướng con người đến những điều thiện, đến tính nhân văn. Viết về cái ác để cho con người đọc sợ không dám làm ác, viết về mặt trái của vã hội để mọi người nhận chân được cái xấu, cái ác để đầu tranh, phòng ngừa… Từ những con người đó mới mong xây dựng được những cơ quan làm công tác tư tưởng – văn hóa, văn nghệ mang đậm đà bản sắc dân tộc nhưng cũng tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nghệ thuật thế giới làm phong phú hơn nền văn nghệ nước nhà. Chỉ có những người thực tài thì mới không lợi dụng ánh hào quang của nghệ thuật để làm cái thang bước lên những nấc thang danh vọng. Kẻ nằm người ngồi như một hồi chuông gióng lên, nhắc nhở những người làm công tác Tư tưởng – Văn hóa như trong một bài viết của Thiếu tướng GS, TS Bùi Quảng Bạ, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Công an đã từng nhận mạnh: “… phát huy vai trò nòng cốt trong việc tham mưu cho Đảng, Nhà nước đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, đề ra các chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng. Phối hợp tổ chức tốt cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – văn hóa, thực hiện phương châm tư tưởng phải đi trước một bước, không để bị động đối phó. Chủ động phát hiện các vấn đề phức tạp nảy sinh trong hoạt động và dịch vụ văn hóa ảnh hưởng đến an ninh trật tự để tham mưu cho Đảng, Nhà nước; kiến nghị các ngành, các cấp có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời nhằm bịt kín những sơ hở, thiếu sót, ngăn chặn các nguy cơ tiềm ẩn xâm phạm an ninh quốc gia nói chung, an ninh trong lĩnh vực văn hóa – tư tưởng nói riêng. Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan văn hóa, văn nghệ; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan văn hóa, văn nghệ; tổ chức tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam và xu hướng toàn cầu hóa thâm nhập, phá hoại, tác động, chuyển hóa từ bên trong, tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trong lĩnh vực văn hóa – tư tưởng”. Chính vì thế vấn đề mà Kẻ nằm người ngồi đề cập đến đâu chỉ là chuyện làng văn, mà chính là chuyện An ninh Tư tưởng – văn hóa.

Hà Nội, tháng Giêng năm 2016