Logo

Cội nguồn – Trần Phan Dương

Đôi điều cảm nhận với tập thơ Cội nguồn

Nguyễn Xuân Dương – Nhà phê bình văn học

 

Nhà thơ Phan Dương tên thật là Trần Phan Dương sinh ngày 18 tháng 10 năm 1948 tại xã Vụ Cầu (nay là Vĩnh Chân), huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ – một miền đất giàu nhân nghĩa nhưng nghèo áo cơm. Ở đây tôi phải cần nhắc lại một điều, đó là trong tập thơ Cội nguồn, có nhiều lần Phan Dương nhắc đến hai từ “bao cấp”. Điều đó Phan Dương như muốn khẳng định nghèo cơm áo là do cơ chế chứ không phải người dân không cần cù, lam lũ. Vâng, trong cái thời bao cấp ấy, miền Bắc ở đâu chẳng đói cơm rách áo. Dẫu đói nghèo thì mẹ cha và quê hương vẫn nuôi Phan Dương lớn lên vóc dáng hình hài. Còn nhân nghĩa đã bồi đắp cho Phan Dương tri thức và lòng dũng cảm để khi tốt nghiệp trường Y, Phan Dương đã cầm súng vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Như nhà thơ đã viết: “Chúng tôi lớn lên cùng tuổi thơ như thế/Chớm tuổi thanh niên đã khoác súng trên vai/Mặc quân phục rộng thùng thình tuyên thệ/Dòng máu trong người được tạo bởi sắn khoai…”. Hơn hết thảy, dòng phù sa nhân nghĩa của quê hương đã bồi đắp cho tâm hồn Phan Dương trở thành thi sỹ ngay từ thời niên thiếu. Khi vào Nam chiến đấu, dù chiến tranh khốc liệt, Phan Dương vẫn làm thơ. Những bài thơ khắc họa về gương hy sinh, về tình đồng đội trong chiến đấu. Qua tập thơ Cội nguồn, có thể khẳng định rằng Phan Dương là một thi sỹ giàu lòng nhân ái – nhân ái với quê hương, nhân ái với cuộc đời…

Trước khi về hưu, Phan Dương giữ chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương. Năm 2009, Phan Dương về hưu và trở lại với lòng đam mê thi ca từ tuổi học trò. Phan Dương lại làm thơ. Những bài thơ chan đầy nước mắt khi viết về nghĩa mẹ công cha. Những bài thơ viết ra từ lòng ngưỡng vọng với Bác Hồ, với Đại tướng Võ Nguyên Giáp kính yêu. Những bài thơ viết về tình đồng đội rất nhiều trăn trở với nỗi đau mất mát do chiến tranh. Những bài thơ sẻ chia với những thân phận nghiệt ngã trong cõi người. Những bài thơ viết về tình yêu quê hương yêu dấu đượm buồn và những bài thơ về mối tình đầu bất tử. Dù viết về đề tài nào, Phan Dương luôn giữ được cho thơ mình ngọn lửa tình người. Ngọn lửa của lòng nhân ái, ngọn lửa tình yêu cuộc sống cháy mãi trong thơ, cháy mãi trong đời…

CÔNG CHA NGHĨA MẸ TRONG THƠ PHAN DƯƠNG

Mở đầu bài thơ Bên mẹ, Phan Dương đã viết “Con ngồi bên mẹ thật lâu”. Tôi đã dừng lại ở câu thơ này cũng thật lâu, vì một cảm giác ấm áp, gần gũi, thân thương cứ ùa ập vào lòng tôi. Tôi cứ nghĩ đây là thời khắc mà Phan Dương được về phép và cũng là lúc mái tóc anh đã nhuộm màu sương khói, cuộc đời cũng đã qua nhiều bão giông. Phải chăng, đây là lần đầu tiên anh được ngồi bên mẹ lâu đến thế. Nhưng rồi đọc tiếp, tôi mới hiểu ra rằng đây là câu thơ của khát vọng được vụt hiện lên từ trong cõi vô thức. Anh không bao giờ tin và không thể tin mẹ anh không còn nữa trên đời. Câu thơ tiếp đã như một cái cật nứa cứa vào con tim đa cảm của tôi: “Đồng xanh chạm núi, vườn trầu chạm sông”. Câu thơ đã cho ta biết không gian, địa điểm mà hai  mẹ con ngồi tâm tình với nhau. Một không gian bao la cho ta thấy Phan Dương đang ngồi giữa một miền cô đơn vô hạn. Tôi cứ thế lặng đi vì tôi đã hiểu Phan Dương đang ngồi bên nấm mồ của mẹ. Rồi từ đó tất cả kí ức về mẹ đã tràn về xâm chiếm hồn nhà thơ, xâm chiếm những tháng năm còn lại của cuộc đời. Những kí ức về mẹ của Phan Dương cũng chính là những kí ức về mẹ của chúng ta. Tôi tin tất cả chúng ta đều nhìn thấy hình bóng của mẹ mình trong từng câu từng chữ của bài thơ Bên mẹ. Những lời thủ thỉ tâm tình khi thì tự thoại, khi thì đối thoại cứ thế thấm đẫm vào hồn ta mà tôi nghĩ mọi người đều cảm nhận được, vì thơ viết về mẹ có gì phải ẩn giấu. Đó là thứ ngôn ngữ rất đời thường, rất dung dị, nhiều yêu thương của những đứa con khi không còn Mẹ ở trên đời. Nhưng đối với Phan Dương, mẹ đã thuộc về sự bất tử. Dù giờ đây mẹ đang nằm dưới nấm cỏ xanh và tóc con đã nhuộm màu sương khói thì mẹ vẫn: “Dáng hình mẹ tựa núi non/Chân con còn bước mẹ còn dõi theo”. Bên mẹ là một bài thơ được viết ra bằng nước mắt có cả máu của một đứa con chí hiếu Phan Dương.

Chắc cha đang về là một bài thơ nữa được Phan Dương viết ra từ trong cõi vô thức.  Trong tâm thức của Phan Dương bao giờ cũng vậy, vẫn tồn tại một cuộc đối thoại giữa mẹ con và cha con như thuộc về hiện thực. Hình như Phan Dương luôn vô thức nên không nhận biết âm dương cách biệt. Nói khác đi, Phan Dương đã hóa thân được vào cõi cha, cõi mẹ để mà thủ thỉ tâm tình. Nhiều bài thơ viết về mẹ về cha hoặc các đồng đội đã ngã xuống ở chiến trường, Phan Dương thường sử dụng lối viết đối thoại, nhưng thực chất là tự thoại. Chính đây là một nghệ thuật ưu việt của thơ Phan Dương để vừa tăng lên sự gần gũi giữa âm dương và cũng tăng lên sự ám ảnh sẻ chia trong thơ. Khi viết về mẹ, thơ Phan Dương cho ta cảm giác về một mạch nguồn vô tận của nghĩa mẹ. Còn khi viết về cha, lại cho ta cảm giác hình bóng người cha lớn lao như ngọn núi Thái Sơn. Chắc cha đang về lại là một cuộc kiếm tìm vô vọng: “Chiều đông con đến thăm cha/Đồng hoang, bờ ruộng cỏ gà xác xơ/Tìm cha sao được bây giờ?/Bàn chân con cứ ngẩn ngơ giữa đồng”. Không gian kiếm tìm vừa mênh mang vừa hiu quạnh vì thế nỗi đau xót và thất vọng thêm dâng đầy. Trong cái không gian ấy, Phan Dương đã cất lên một câu hỏi xé lòng: “Cha ơi! Cha lạnh lắm không?/Gió như dao cứa vào lòng chúng con”. Rồi tiếp đến là những điều ghi nhận về công lao của người cha: “Một đời lội suối trèo non/Khai hoang vỡ đất chai mòn bàn tay”. Cảm xúc cứ dâng trào và nước mắt cũng tuôn trào. Tôi chẳng biết làm gì hơn là trích vào đây đoạn thơ còn lại: “Tháng năm cơ cực đắng cay/Cha đi để lại đường cày dở dang/ Trở về mà dạ ngổn ngang/Gió đông càng lạnh lại càng xót xa/Con quỳ xuống gọi tên cha/Nỗi niềm quyện với la đà khói mây/Dấu chân cha vẫn còn đây/Dẫu Người tan giữa cỏ cây quê nhà/Cuối chiều mưa lạnh nhạt nhoà/Đồng thưa thớt bóng/chắc cha đang về…”.  

Vẫn còn rất nhiều những bài thơ viết về công cha, nghĩa mẹ trong Cội nguồn. Tôi tin đây là mảng thơ chạm được vào nơi sâu thẳm nhất đó là cõi lòng của những đứa con khi không còn cha mẹ ở trên đời. Những bài thơ sâu nặng nhất về chữ hiếu, phải chăng Phan Dương đã hiểu sâu sắc rằng trăm điều thiện trong đời thì hiếu là hàng đầu: “Bách thiện hiếu vi tiên”. Mời các bạn cùng đọc những bài thơ đẫm đầy nước mắt để luôn thấy được hình bóng của mẹ mình, cha mình trong thơ Phan Dương.

NHỮNG VẦN THƠ VIẾT TỪ TRONG TẤM LÒNG NGƯỠNG VỌNG

Phải khẳng định một điều, nhà thơ Phan Dương rất tinh tế khi viết về sự vĩ đại của Bác Hồ. Phan Dương không viết những câu thơ khắc họa trực tiếp hình ảnh và phẩm chất của Bác. Bởi vì sự vĩ đại của Bác nếu cứ ngợi ca trực tiếp, làm sao có thể không dậm vào bước chân của các nhà thơ đi trước và không bị sáo mòn.

Ước mong của Phan Dương là bài thơ được xem như một bản báo công với Bác. Tất cả chúng con vâng lời Bác cầm súng ra chiến trường để thực hiện lời Bác dạy  “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chúng con vượt Trường Sơn với bao thử thách hy sinh và gian khổ. Dù người ngã xuống nhiều hơn người còn lại thì chúng con vẫn luôn vâng lời Người để giải phóng quê hương, thống nhất đất nước. Thực hiện nguyện vọng của Người là ước mơ của thế hệ chúng con.

Bác đã dạy phải biết hy sinh vì quyền lợi của nhân dân. Chiến tranh tàn khốc với biết bao xương máu đã đổ xuống ngoài chiến trường. Khi trở về cuộc sống hòa bình, chúng con đã nhận ra rằng tất cả đã không như chúng con ước mơ và khát vọng. Biết bao kẻ đã làm giàu trên máu xương của đồng đội. Chúng con như những kẻ bơ vơ, lạc lõng trong một xã hội mà nhiều người đã nói chống giặc nội xâm khó gấp vạn lần chống giặc ngoại xâm. Vâng thưa Bác, đúng là như thế! Giặc ngoại xâm chúng con nhìn rõ mặt kẻ thù. Còn giặc nội xâm, xưa từng là đồng đội, là cán bộ lãnh đạo của chúng con giờ họ thấy đồng tiền như bùa mê thuốc lú. Thật xót xa khi họ vẫn luôn hô hào rằng học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại. Kính thưa Bác! Chúng con là những đứa con của thế hệ Hồ Chí Minh, chúng con nguyện sẽ đem hết sức mình để thực hiện cho bằng được ước mơ và khát vọng của Người và cũng là ước mơ và khát vọng của dân tộc trở thành hiện thực.    

Mãi là vành nôi là bài thơ nói về phẩm chất cao đẹp của một vị tướng lừng danh không những của Việt Nam mà còn của cả nhân loại. Ước mơ hay nói đúng hơn ý nguyện của Người là khi ra đi vào cõi vĩnh hằng sẽ được về yên nghỉ trong lòng đất quê hương. Đất mẹ Quảng Bình nơi Vũng Chùa hẻo lánh, xa xôi quay đầu ra biển cả bao la, mãi mãi là vành nôi ru giấc ngủ ngàn năm của Người. Đó là đích đến của bài thơ Mãi là vành nôi mà nhà thơ Phan Dương muốn gửi gắm cho chúng ta.          

TÌNH ĐỒNG ĐỘI VÀ NỖI ĐAU CHIẾN TRANH TRONG THƠ PHAN DƯƠNG

Nhà thơ Phan Dương luôn hiểu một cách sâu sắc và cặn kẽ rằng, mình tồn tại vẹn nguyên, có được một địa vị xã hội và cuộc sống như hiện nay là nhờ một phần lớn máu xương của những đồng đội đã ngã xuống ngoài chiến trận. (Những người đã ngã xuống nhiều hơn người còn lại). Chính vì lẽ đó, khi viết về nỗi đau chiến tranh, khi viết về đồng đội, Phan Dương luôn đau đáu một nỗi niềm biết ơn và trăn trở, một tấm lòng ngưỡng vọng đối với những người bỏ lại tuổi thanh xuân ở chiến trường mãi mãi không về. Thơ Phan Dương viết về những người mẹ mòn mỏi chờ con trọn cả cuộc đời nhưng không phải là những đứa con vẹn nguyên trở về, vì mẹ hiểu con mẹ đã nằm lại ở chiến trường. Những người mẹ chỉ chờ những nắm xương của con mình được trở về ủ ấm trong vòng tay đất mẹ…

Đối với nhà thơ Phan Dương, tình đồng đội, tấm lòng tri ân của nhà thơ trước sau như một. Đã biết bao nhiêu ngày và bao nhiêu đêm Phan Dương đã từng: “Xoè bàn tay đếm thời gian/Từng ngón gầy guộc cứ đan lên trời/Tiếng lòng như gọi cuộc đời/Ai quên một thuở bom rơi trên đầu?”. Xòe bàn tay ra để đếm tên, để điểm danh những người đồng đội ai còn, ai mất. Hài cốt của ai đã được quy tập về trong lòng mẹ và trong lòng quê hương. Còn ai nữa đang nằm đâu đó giữa bạt ngàn Trường Sơn, trên khắp bãi chiến trường để bao bà mẹ vẫn mòn mỏi chờ trông. Chờ trông cho hết một đời… Những bàn tay thân yêu của đồng đội mà nhà thơ đã được nắm cầm để rồi mãi mãi phải buông ra cho âm dương cách biệt. “Bàn tay nhen lửa bập bùng/Yêu nhau yêu cả trong từng giọt mưa…”. Và: “Bàn tay đồng đội buông ra/Để trăm năm chỉ còn là tuổi xuân”. Giờ nhà thơ chỉ còn biết: “Xoè bàn tay đếm tên nhau,/Cũng là nghĩa cử trước sau với đời…”. Bài thơ khép lại mà ta vẫn như nhìn thấy nhà thơ cứ đưa đôi bàn tay già nua, gầy guộc rồi cứ đếm hết ngón này, đến ngón khác, đếm đi rồi đếm lại mãi khôn cùng. Còn miệng thì lẩm nhẩm như khấn vái đọc tên từng người đồng đội ai còn, ai mất. Ai hạnh phúc giàu sang, ai khổ đau đói nghèo…

Rồi nhà thơ cứ sống trong hoài niệm, trong khát vọng đến xót xa: “Trời hôm nay không đỏ như ngày ấy/Nhớ một thời đầy ước vọng khát khao/Thèm được sống tuổi thơ xưa như vậy/Dù sắn khoai nhưng chẳng mất bạn nào”. Chắc chắn rằng khi được trở về với cuộc sống đời thường vẫn vẹn nguyên, nhà thơ của chúng ta đã rất nhiều lần trở lại những bãi chiến trường mà gió bụi thời gian đã xóa nhòa để kiếm tìm hài cốt của những người đồng đội, để đưa các anh về với bao người mẹ phải sống trong đợi chờ: “Cỏ hoang đã phủ kín rồi/Làm sao tìm được bạn tôi bây giờ?/Tháng năm dằng dặc đợi chờ/Mẹ nằm thoi thóp vẫn mơ con về…”.       

Tôi thực sự xúc động khi đọc khổ thơ vừa là tình đồng đội, vừa là tri ân, vừa là sự ghi nhận về sự tồn tại bất tử của những người đã ngã xuống. Máu xương của các anh đã hòa vào trong đất cho mọi sinh linh, cho cỏ cây hoa lá, cho Tổ quốc hồi sinh: “Hương trầm, cơm xới mấy lưng/Rượu buồn gọi bạn tưới từng gốc cây/Linh hồn chắc vẫn quanh đây,/Bởi xanh chiếc lá, bởi đầy tiếng chim”…

NỖI NIỀM TRĂN TRỞ VÀ SẺ CHIA TRONG THƠ PHAN DƯƠNG  

Tiếng rao xưa  – Một bài thơ ai đọc cũng thấy lòng xót xa, không chỉ vì ta xót thương những phận người mà ta còn ân hận, xót xa vì tuổi thơ đã có nhiều lầm lỗi với mẹ kính yêu. Giờ sám hối thì đã quá muộn rồi. Nhưng muộn vẫn còn hơn không. Muộn để mà ghi nhớ để mà biết ơn: “Cùng tiếng rao cháy lòng một thuở/Giờ đã về đâu?/Để cho con dẫu bạc mái đầu/Vẫn thèm vị ngọt mạch nha dính đầy răng/Được đổi bằng tóc mẹ…”.

Vâng, đó là Tiếng rao xưa . Nhưng không phải tiếng rao xưa thời Tố Hữu của chế độ đế quốc phong kiến. Đây là tiếng rao xưa trong thời bao cấp, thời của nền kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa. Cái tài năng của Phan Dương khác Tố Hữu ở chỗ, không phải nhà thơ (con người) cảm nhận về tiếng rao, Phan Dương dành sự cảm thụ và sẻ chia cho những con vật ta luôn nghĩ nó vô tri vô giác, nhưng nhà thơ thì không: “Tiếng rao của người đàn ông/Gầy rạc/Con trâu nhai cỏ non ngơ ngác”. Tiếng rao đã làm con trâu đang nhai cỏ non ngơ ngác. Vâng, ta chú ý hai từ “cỏ non”. Nghĩa là con trâu đang nhai ngon lành những mầm cỏ non ngọt lịm. Vậy mà nghe tiếng rao, nó phải ngẩng lên ngơ ngác nhìn. Còn tiếng rao của người đàn bà thì sao: “Ai tóc rối đổi kẹo nào…”/Tiếng rao của người đàn bà/Bên thùng mạch nha dẻo quẹo…/Tiếng rao úa héo/Làm giật mình con sáo sậu ngoài đê”. Con trâu thì ngơ ngác, con sáo sậu đang hót líu lo phải giật mình. Ta mới cảm nhận hết sự sẻ chia sâu sắc với những phận người trong thơ Phan Dương. Khi mái đầu đã pha sương gió cuộc đời, Phan Dương giật mình khi nghe tiếng rao của thời mở cửa và những mất mát của môi trường thiên nhiên thanh bình xưa cũ: “Đến bây giờ/Lũ chim buồn không hót/Chẳng thấy bóng trâu gặm cỏ ngoài đê/Trên con đường bé nhỏ vùng quê/Chỉ còn tiếng rao phát ra từ chiếc loa thùng chát chúa”. Để nhớ lại tiếng rao xưa mà sẻ chia, mà ân hận và cũng để biết ơn người mẹ kính yêu đã cho con vị ngọt cuộc đời: “Sợi tóc rối mẹ vo tròn/Cùng tiếng rao cháy lòng một thuở/Giờ đã về đâu?/Để cho con dẫu bạc mái đầu/Vẫn thèm vị ngọt mạch nha dính đầy răng/Được đổi bằng tóc mẹ…”. Chỉ cần thế thôi ta đã hiểu được tấm lòng Phan Dương nhân hậu và chí hiếu biết nhường nào. Có lẽ ai cũng cảm ơn nhà thơ Phan Dương đã cho ta được trở về một thời với những thăng trầm, những nghiệt ngã của cuộc sống chỉ qua Tiếng rao xưa.

Tôi rất yêu những bài thơ vụt hiện được tác giả viết vào những lúc cảm xúc thăng hoa. Những bài thơ viết theo sự thôi thúc của trí tuệ. Không theo một chủ đề nào, một hư cấu nào. Cứ trải lòng về những suy ngẫm cuộc đời. Trăn trở về những điều được mất hơn thua, những khổ đau hạnh phúc…      

Cớ chi mà buồn là một bài thơ như thế. “Cớ chi mà buồn” như nhắc nhở chính mình, nhắc nhở Em và có lẽ còn nhắc nhở những ai khi đọc thơ Phan Dương. Nhiều câu thơ ở đây đẫm chất triết lí và có những câu thơ đã tiệm cận với chân lí. Bài thơ luôn là những cặp đôi so sánh về những gì đang diễn ra quanh ta. Theo tôi khổ thơ dưới đây được xem như những chân lí: “Hoa rụng xuống dâng cho đời trái ngọt/Sông chảy đi tạo thành biển sóng trào/Sau giông bão tiếng chim cao giọng hót/Đêm u buồn rồi cũng sẽ đầy sao”. Mời các bạn đọc bài thơ để cùng suy ngẫm với nhà thơ. 

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ TÌNH TRONG CỘI NGUỒN

Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca. Nhưng không phải chỉ là tình yêu lứa đôi mà còn là tình yêu quê hương, tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước và tình yêu đồng loại. Đọc những bài thơ về đề tài này của Phan Dương, ta mới thấy nhà thơ luôn ăm ắp tấm lòng nhân hậu. Thơ Phan Dương chan chứa những yêu thương nhưng cũng rất nhiều xót xa trăn trở khi mỗi bận về quê. Nhà thơ thường ngậm ngùi, tiếc nuối, nhớ thương những người bạn thuở chăn trâu cắt cỏ, thuở học trò, thuở sắn khoai đói rách, giờ đã vơi cạn đi vì bao người đã ngã xuống để lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường. Phan Dương thường tiếc nuối cái thời tốt đẹp, cái thời tất cả chỉ màu đỏ. Đỏ cả xác pháo rơi, đỏ từng cánh phượng treo đầu ngõ: “Tuổi thơ ấy trời lúc nào cũng đỏ/Từ ngọn đèn dầu đủ sáng vở học sinh/Từ cánh phượng treo nỗi niềm ngoài ngõ/Từ xác pháo rơi trong ngày tết thanh bình”. Rồi nhà thơ như nấc lên – những tiếng nấc làm nghẹn cả lòng ta: “Chỉ còn lại nỗi đau không kể xiết/Như bao người lỗi hẹn với làng quê/Chưa kịp gửi cho nhau lời vĩnh biệt/Bạn đã đi và chẳng thể quay về”. Khao khát lắm được trở về thăm quê, nhưng mỗi lần về quê lại là một lần hẫng hụt. Khi thì có người vừa đi xa, khi những vẻ đẹp thanh bình, những tình cảm thân thương cứ dần mai một. Không còn những bóng trâu gặm cỏ bờ đê, không còn tiếng sáo sậu véo von trên đồng, không còn đàn chim sẻ sà xuống nhặt thóc của mẹ. Còn đâu lũ chào mào cãi nhau chí chóe trên những cây xoan mùa đông quả chín vàng… Cứ thế những kỉ niệm ùa ập tràn về lấp đầy trong thơ Phan Dương: “Đâu rồi con ngõ, hàng cây,/Nhà xưa mái cọ, mẹ gầy bếp than?/Nhớ hàng rào nứa cha đan/Bình yên, giản dị, ngập tràn tình thương…”. Kỉ niệm chồng lên kỉ niệm. Tiếc nuối chồng lên tiếc nuối. Nhớ thương chồng lên nhớ thương tại chính quê hương yêu dấu nhưng đượm buồn, nơi nhân nghĩa và sắn khoai đã cho ta cuộc đời dài rộng. Câu hỏi Đâu rồi cứ da diết lòng ta… “Đâu rồi bụi duối ven đường,/Rặng si cùng nắng vấn vương trước nhà?/Khói lam quyện với chiều tà/Đất nghèo ki cóp cho ta cuộc đời”. Vẫn còn đó rất nhiều những bài thơ viết về quê hương với tình yêu nồng nàn, cháy bỏng, đầy ắp trong Cội nguồn. Mời các bạn hãy cùng đọc để hiểu thêm tấm lòng nhân hậu của thi nhân.

Không thể không nói đến những bài thơ tình của Phan Dương viết về mối tình đầu dang dở. Mấy ai có được mối tình đầu tiến tới hôn nhân khi cuộc đời là những cuộc chia li vì mưu sinh, vì chiến tranh, loạn lạc. Nhưng thơ tình của Phan Dương vẫn luôn có điều gì đó rất tươi mát dịu dàng. Đặc biệt qua thơ Phan Dương, ta thấy được người mình yêu có thể không thuộc về thế giới này mà ở một thế giới nào đó không thể nhìn thấy, không thể với tới – thế giới hư ảo của các nhà thơ. Nàng đẹp như một thiên thần. Phải chăng khi yêu, ta thường sống trong ảo vọng, để rồi khi tình yêu mất đi, ta lại càng nuối tiếc đến khôn nguôi…

Sắc màu của Phan Dương là một bài thơ như thế. Nhà thơ nhìn thấy người yêu của mình hội tụ đủ đầy mọi sắc màu của ánh sáng. Phan Dương nhìn thấy người mình yêu có khi là một màu trắng. Màu của tà áo trắng đang bay của lứa tuổi học trò. Màu trắng của cánh cò bay trên bầu trời đầy nắng. Trắng đến ngây ngất, trắng đến dạt dào thơm tho như loài hoa cúc trắng… Rồi nhà thơ lại nhìn em có màu xanh của lá. Màu xanh ấy làm dịu êm cả những cơn khát của mùa hè. Màu xanh của lá như đang cùng khát vọng vun đắp một tình yêu si mê, trải khắp muôn ngả đường đời… Rồi nhà thơ lại tưởng tượng em như bừng lên sắc đỏ, một sắc đỏ như: “Cũng có thể em bừng lên sắc đỏ/Máu từ tim như ngọn lửa bập bùng/Như cánh phượng buông mình vương đầy ngõ/Suốt cuộc đời nỗi nhớ cứ mông lung”. Vẫn chưa hết, nhà thơ cứ thế đi trong miền ảo vọng của sắc màu… Còn bây giờ em là sắc tím. Màu tím của thủy chung chứ không phải “Màu tím hoa sim, màu tím hoa biền biệt” của Hữu Loan. Mà là: “Em nồng nàn với sắc màu hoa tím/Lời nguyện cầu sẽ mãi mãi thủy chung/Phút tỏ tình trong hoàng hôn bịn rịn/Khi đã yêu là yêu đến tận cùng”. Và bỗng dưng như đã có gì đó mách bảo của tâm linh, nhà thơ đã nhìn thấy nơi em một màu vàng của khổ đau, nhung nhớ: “Màu vàng kia có khi là em đó/Lúc yếu mềm ta hãy tựa vào nhau/Giọt lệ rơi để vượt qua bão tố/Khuyết rồi tròn trăng cũng có niềm đau”. Ôi cái màu vàng làm đau lòng cả vũ trụ… Rồi những gì đến nó sẽ đến. Nhà thơ vừa nói về những sắc màu hiện hữu, gần gũi của hai người yêu nhau. Nhưng, như trên tôi đã nói, khi yêu nhau, nhà thơ đã lạc vào miền ảo vọng. Tất cả những gì mà nhà thơ khao khát đó chỉ là sắc màu của ánh sáng. Sắc màu đã hội tụ của cầu vồng. Thứ  mà ta nhìn thấy, là có thực, nó lung linh trước mặt nhưng ta lại không thể chạm đến, không thể nắm bắt và hình như đó chính là Tình yêu: “Có thể em là cầu vồng bảy sắc/Cứ lung linh neo đậu phía chân trời/Tưởng rất gần mà dường như xa lắc/Để nỗi niềm theo ngày tháng đầy vơi”. Bài thơ khép lại mà ta như vẫn thấy nhà thơ cứ đăm đăm nhìn mãi phía chân trời xa thẳm, ở nơi đó đang rực rỡ cây cầu vồng kì ảo, để mà nhớ nhung, để mà tiếc nuối, một nỗi niềm tiếc nuối khôn vơi.

Tôi rất yêu mấy câu thơ của Phan Dương trong bài Hãy yêu đi: “Ngõ nhà em hôm nay sao đẹp thế/Chắc là xuân đang sắp đến nơi rồi/Cây hoàng lan lá xanh hơn rồi nhỉ/Vẫn nồng nàn thắm đỏ một làn môi”. Khổ thơ đã khẳng định như những gì tôi đã nói ở trên: Khi người ta yêu thì người yêu đã trở nên thánh thiện, đã hóa thành thiên thần!…

Đọc Cội nguồn, ta đã thấy được nội dung và ý nghĩa hai từ này của nhà thơ Phan Dương. Đó là công cha nghĩa mẹ, là Bác Hồ, là vị tướng lừng danh Võ Nguyên Giáp, là quê hương yêu dấu đượm buồn, là bạn bè đồng đội, là những người mà nhà thơ yêu thương… Tất cả đã bồi đắp cho anh khôn lớn, trưởng thành với đầy đủ nhất hai từ Con Người. Hơn thế nữa, còn bồi đắp cho tâm hồn Phan Dương trở thành một thi sỹ giàu lòng nhân ái – nhân ái với quê hương, nhân ái với cuộc đời. Một thi sỹ luôn biết thắp lên trong thơ mình Ngọn lửa tình yêu cuộc sống.

Đã đến lúc khép lại đôi điều cảm nhận. Sẽ có người hỏi sao tôi không hề nói đến thủ pháp nghệ thuật trong Cội nguồn. Xin được thưa rằng, nghệ thuật thuộc về một phạm trù mênh mông và dài rộng. Nhưng với tôi, đó là cái có sau của mỗi tập thơ. Nếu có nói thì cũng chỉ lặp lại những gì mà bao người đã nói. Với tôi, khi cảm nhận thơ thì điều tôi quan tâm đó là cảm xúc, là tính nhân văn, là thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm cho cõi người. Điều đó qua cảm nhận, tôi đã nói được một phần nào. Một phần nào thôi vì thơ Phan Dương đối với tôi rất rộng dài và sâu thẳm.

Nếu có gì sơ suất mong được tác giả và bạn đọc lượng thứ.

Chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và sáng tạo đến với mọi người!

 

Hà Nội, tháng 02 năm 2020

NXD