Logo

Truyện ngắn Gã Đẽo Lũa

Gã Đẽo Lũa – Từ hiện thực trần trụi đến những giá trị con người

Tác giả Nguyễn Song Hào quê ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La; Học viên Lớp bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa IX.  Nguyễn Song Hào đã có một số tác phẩm đăng trên báo Văn nghệ và Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Trước đó các tác phẩm của ông đã được in chung trong tập Thơ văn Sơn La (1954 – 2004; 2004 – 2014).

Vừa qua, tập truyện ngắn Cây đào đá của ông được xuất bản tại Công ty CP Văn hóa Đất Việt. Tập truyện ngắn của Nguyễn Song Hào mang “vía núi, hồn rừng” ám ảnh người đọc người nghe. Văn hóa Đất Việt trân trọng giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn Gã đẽo lũa (tập truyện Cây Đào đá) – đây là một trong những truyện được đánh giá là “viết khéo nhất” của tác giả.

Gã đẽo lũa

(Kính tặng thầy giáo, cựu chiến binh P.V.S)

 

– Anh à! Trăm phần trăm cái Đào phải lòng thằng đẽo lũa rồi! Vợ tôi thì thầm, đêm thanh vắng nghe rành rọt như mũi dùi xiến lỗ nhĩ, khiến tôi không khỏi rùng mình.

Khẽ hắng giọng tỏ vẻ là có nghe, chứ thực tình tôi đâu hào hứng chuyện dây cà dây muống các bà nên Chẹp!

Em nói thật đấy. Mấy hôm nay nó thẫn thờ như người mất hồn ấy nhá. Vâng. Đúng là em không tin nổi mắt mình nữa cơ? Cứ nhác thấy bóng dáng thằng nọ là mắt nó sáng nhễ, nhìn thủng con ngươi, nom dơ dơ quá. Được nhìn lại một cái nó mới lạch bạch chạy vào buồng thờ, khoanh chân, nhắm mắt ngồi lần tràng hạt, cứ như sư bà mà có yên thân đâu? Lại hé cửa nhìn một tý nữa mới chịu được. Nó bảo ăn rau răm mãi, đi kiết. Lại nước rau má, với bột sắn dây. Khổ thế! Nhiều khi bức bối ra dội nước rào rào.

– Ờ thì tuổi này, đàn bà con gái ai chả có lúc phát hỏa?

– Nhưng mấy ai khổ như nó bao giờ? Hay là… đúng?

– Đúng gì?

Nó bảo thế.

– Chẹp!

– Thì nó bảo thế! Là lúc ấy mắt hoa đi, nhìn y dáng chồng nó cười duyên với nó. Vậy nên chị chàng càng căng mắt nữa ra nhìn xem đúng không? Rồi như gái dậy thì ý, ngứa mông, nóng má, rôm sảy chẳng bằng….

Đào là vợ chú em đẻ tại Sơn La nhưng cùng quê gốc, nên thân thiết với nhà tôi như ruột thịt. Chập tối cô mang biếu ấm trà rồi khẽ khàng thưa chuyện. Cứ ngỡ chuyện kia, tôi đằng hắng cho ra dáng bác cả; nhưng không phải. Đào hỏi về việc sang nhà mới cho chồng. Chà! Đủ thứ bà rằn chứ bỡn à? Mấy năm rồi? Ờ nhỉ, năm nào cũng vác răng giả sang ăn giỗ mà quên khuấy. Sạch sẽ cả chưa? thầy nào xem? Đất tìm ưng ý rồi à? Chỗ ấy được. Quan quách thế nào? Ngày giờ xem chu đáo chưa, tra lịch vạn sự chả đúng hẳn đâu? Cỗ bàn trù liệu tiềm tiệm thôi. Ừ! Đặt ráo nhà hàng cho rảnh tay. Bao nhiêu điều phải dậy bảo. Cuối cùng vợ tôi lại nhanh nhảu làm phát ngôn viên. Chú thợ đẽo lũa muốn làm việc nghĩa lấy khước. Tôi giật bắn người:

– Nghĩa là… Nó muốn tắm cho chú ấy. Hay là… cầm mai, vác xẻng đưa dâu uống rượu hử? Mà mà… chúng mày đã là gì của nhau chưa hử?

Cô Đào thường ngày đáo để lắm, tay đôi dáo sào với bọn ăn hàng quỵt nợ, nay mới nghe nửa câu tôi nghi vấn đã ứa nước mắt: sống với anh chị nửa đời người mà anh nỡ coi em vậy, phải tội với giời.

– Thôi thôi, được rồi. Mai tôi xem đầu cua tai nheo thế nào đã nhá!

Mới thế đã hơn hai mươi năm, hồi ấy nhiều cặp trẻ phát ghen với vợ chồng nó. Chồng lái xe đầu Zin đít ca tuyến sông Mã – Sốp Cộp, thoải mái nhồi khách thu tiền. Vợ dạy ngay thị trấn, chẳng phải đèo cao, suối sâu như các cô giáo xuôi lên cùng đợt. Chiều nào gian bếp vợ chồng nó trong khu tập thể cũng thơm nhức mũi. Năm sau, đẻ một lứa, hai thiên thần đái đứng đẹp như tranh. Thế rồi, đâu ngờ, thằng chồng sướng quá, hóa rồ, bập nghiện, ngày càng nặng. Bị đuổi việc, vật vờ, dặt dẹo đấy nhưng nó đánh vợ như chảo chớp. Chính quyền bắt đi cai vài ba bốn bận, có lần hàng năm, về đâu lại vào đấy. Khổ. Đận sau cùng nó quyết tâm sắt đá lắm, cho xích chân tay vào thành giường, ăn ỉa tại chỗ. Đâu hơn 6 tháng, không thấy đập phá, tưởng chắc ăn rồi, không xích nữa, chỉ khóa cửa ngoài, thấy cũng êm êm. Mấy tháng nữa, trơn lông đỏ da, nom như thư sinh, ai chả mừng. Rồi thề nước, thề non, vợ thương mở khóa ra cho đỡ quầng chân, có ngờ đâu vài ngày sau, ẵm trộm tiền vợ, biến mất tăm. Người nhà chỉ biết tin khi nó sốc thuốc, không gỡ được.

Hai con lúc ấy đang tuổi ăn học, nó lật đật ngược xuôi, người rạc như con mắm. Khổ nhục từng ấy, một mình chèo chống được, bây giờ mát mặt tý rồi, sao không cam phận nốt, Đào ơi!

*

*    *

Khi tôi vào làm chân bảo vệ xưởng mộc mỹ nghệ gần nhà, thì gã là phó cả hội thợ đẽo lũa, đang đẻ trứng vàng cho ông chủ. Trời ạ! Những mảnh bìa nghiến, lỗ chỗ nu mụn, hang hốc, mới năm ngoái còn là đồ bỏ, dân sơn tràng không thèm chấp. Năm nay, qua xưởng ông chủ tôi, chúng biến thành những ông Thiềm thừ, ngậm tiền, giữ của, giá bạc triệu. Huống chi, những cái gốc mới hạ to uỳnh chật cả thùng xe, nhựa ứ đóng quánh nơi rễ mới phạt, từng cục nhờ nhợ đỏ như tiết hồng đào; vài ba ngày sau đã thành những độc bình ngọc nghiến, vân rực rỡ như muôn áng mây ngũ sắc. Lủng lẳng treo nơi cổ, tấm biển ghi chữ Tầu, chữ Tây, giá đô Mỹ. Rồi những thân gốc cũ như xương xẩu khủng long oan ức ngâm mình bao năm dưới lòng sông, bờ suối, cái đận tận thu chạy ngập lòng hồ thủy điện mới vớt lên cải cát, di hình. Đấy mới là sở trường của gã. Ngổn ngang như núi vậy thôi, nhưng mỗi gốc một tác phẩm đã phôi thai, mới nghe sơ, chủ đã sướng rên.

– Bản thân cái đẹp không phải đã hoàn toàn đẹp đâu ạ! Nó phụ thuộc gu thẩm mỹ từng người. Và ngay với một người, không phải lúc nào nó cũng hoàn mỹ, nay ta ưng, nhưng mai sẽ thấy nó thiếu cái này, ngày khác lại ước nếu bỏ cái kia, nó sẽ chuẩn chỉ hơn!

– Cậu cứ như triết nhân ấy nhỉ?

Đại gia buông một lời khen rồi giơ tay cho hắn nhún người đỡ lấy. Nhưng hắn quái, không nắm chặt và giật giật như một gã quê mùa. Hắn nắm hờ thôi, kéo nhẹ tay đại gia về phía tay ông chủ. Cả hai ớ người, vội nắm chặt lấy tay nhau và cười cười; ngượng.

Tôi biết tỏng, cách gã gợi ra cảnh vật. Lúc đứng góc này nhìn chếch lên, khi nghiêng người, hé mắt nhìn xéo xuống, cứ thao thao chỉ chỏ, buộc ánh mắt người xem men men bề mặt lũa gồ ghề để óc tưởng tượng theo.

– Thấy chưa, sát thủ đầm lầy lim dim giả vờ ngủ đấy, chỉ chờ con báo gấm kia, đấy thấy chưa, sẩy chân. Chắc chắn sẽ sẩy chân, vách núi dựng đứng thế, bám mãi sao không mỏi? – Sẽ kịch chiến thư hùng đúng không? Kẻ còn, kẻ mất. Kiểu gì chả có phần cho chúa tể vùng trời đang kiên nhẫn kia kìa… Tọa sơn quan hổ đấu đấy. Vâng. Cuộc sống khắc nghiệt lắm nhưng bao dung lắm. Anh/ chú nhìn rõ không ạ? Xa xa kia bác tiều thanh thản nghểnh đầu phả khói thuốc lào. Dưới đồng bãi, nhấp nhô nửa người anh chài vung tay lưới…

Đại loại thế, nhưng hắn hót thì được, chứ có ghi ra giấy bảo tôi đọc, chắc gì đã ai gật gù, tán thưởng?

– Chẳng phải nhìn một cái, ai cũng xao xuyến ngay trước vẻ mềm nuột mà gan lì tự nhiên của lũa? Người thợ phải thổi hồn vào, bằng những nét đẽo tài hoa, đôi khi chỉ tẩy dác thôi đã tôn lên thần thái. Còn để thành tác phẩm, bố xem mồ hôi thợ sôi lên ngày mấy bận? Vâng! Có giả nhiều chứ. Nhưng giả đẹp hơn thật ở chỗ có hồn, bắt mắt. Như mấy mẹ sề, tốn cả trăm triệu hút chỗ nọ bơm chỗ kia để hút mắt đàn ông ý. Vừa nhẩn nha mài gọt, hắn vừa giảng giải – Như pho Ngũ hành sơn hiểm trở, bầy cả năm ở trung tâm sinh vật cảnh tỉnh, đủ cả thầy trò Đường Tam Tạng đi Tây Trúc lĩnh kinh, mấy ai màng hả bố?

Đúng vậy thật! Rinh về, hắn quăng đánh ùm vào bể, vứt ráo mấy ông giống đất nung, lẫn tùng, trúc, cúc, mai nhựa đi. Vài ngày sau, ngồi dãi thẻ ra, tỷ mẩn chuốt lại, găm vào mấy cọng que xỉn, bỗng thành đồ độc mới oách chứ. Có chăng, cái sáng tạo nhất, đắt giá nhất thì người mua phải về sắm lấy. Đấy là ánh sáng hắt rọi vào, là mầu của các bức tường nhà làm phông. Và bệ đỡ bằng kính xanh cường lực cho lung linh mây nước. Của đáng tội, hắn có cho vài ba đoạn len trắng xanh, giăng mắc loằng ngoằng, rồi bắt óc người ta phải nghĩ là đó là cầu mây, thác bạc. Có khi là thác dải yếm ở Mộc Châu.(!)

*

*      *

Cái câu “thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ…” thật chẳng đúng tí nào với xưởng mộc mỹ nghệ này; lành làm gáo, vỡ làm muôi, nhớn bé vào việc tất. Dăm bào, mùn cưa gom đóng bao để xưởng Ván ép thầu lại, thì đầu mẩu nào bọn thợ cho vào bếp chẳng làm chủ xót? Chết nỗi, hắn chủ lại cả nể, toàn xúi tôi chẹt họ.

Vậy mới ra chuyện.

Buổi tối nọ, tôi ới phó cả sang uống nước, cái chính để truyền đạt ý ấy của chủ. Ấm nước siêu tốc phì hơi u ú, điện ngắt cái “pạch” đã nghe tiếng hắn “Bố để con!”. Còn cách mấy bước chân, hắn nhảo nhanh đến, giành lấy việc xóc ấm, đổ bã, tráng chuyên. Tay hắn thoăn thoắt, rất nhọn, rõ con nhà nòi.

– Chịu bố thửa được anh móc câu, mốc tuyết, thả vào ấm nghe loong coong như đinh dép rơi trong chai ý. Vâng, nhất ngon bằng mắt, bằng tai, thứ hai mới bằng mũi…

– Chuyện! Chấp sao lại trưởng phòng nghiệp vụ sở… chuyên được cống, nó đãi. Dưng mà này tớ bảo, trời hanh, gió cả, sợ củi rả anh em nhãng đi, nhà xưởng toàn tre, gỗ, nhỡ hỏa hoạn chết. Ông chủ nhất quyết ngay ngày mai, cấm tiệt bếp củi. Nhá!

Tưởng gã sẽ cao giọng chê chủ kẹt xỉn, nhà giàu chấp con mót, nhưng không; hắn chỉ chép miệng, tiếc không được ăn món khoái khẩu gia truyền. Gia truyền gì? Lỡm được tớ chắc. Nghĩ bụng vậy nhưng tôi cứ yên để hắn ba hoa luận về ẩm thực. Quả thật, hắn sành ăn. Đúng rồi, cơm củi, gạo ruộng, lưng lửng xoong gang, cạn nước chỉ cần dập lửa, bươi bớt than hồng ra xung quanh; rửa mặt mũi chân tay xong vào sắp bữa là vừa. Mở vung nồi cơm, nghe “ẹo” một tiếng và nước nơi vung rơi lã chã, hơi ngào ngạt bốc lên. Đập nhẹ lưng cái muôi trên mặt cơm, nẩy nghe pinh pịch, đích thị là cơm chín tới, không chê vào đâu được.

– Ừ, Chịu các cụ ta xưa! Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà mái ghẹ mà.! Tôi rôm rả hưởng ứng, thì hắn vội xoa tay: “dị bản, dị bản… Xin bố chén nữa, trà ngon quá!…”

Bẵng đi ít tối không thấy gã sang trà, chuyện, thấy nhơ nhớ; đành rằng, ngày nào chả gặp ở xưởng. Hắn khoe, tốp thợ hắn đã đặt cơm tháng quán cô Đào ngã ba, ăn rất được, lại rẻ. Quan trọng nhất, đôi mắt gã ánh lên tinh quái, là mụ nấu cơm chín tới ngày hai bữa, chứ bọn hắn không ăn cơm nồi điện. Nay rằm, chắc được quán khuyến mại chai rượu lộc, nên khuya hội thợ mới ngất ngư dẫn nhau về, líu la, líu lô, tiếng tròn, tiếng méo. Cũng có khi vào bản Tông chọc sàn mấy cô hồi chiều đánh nhám lũa. Ôi dào con gái bây giờ, vài cái liếc nhau cười cười đã xong béng rồi, kể chi me hạng (gái góa)

Vợ tôi lượn đâu về, dáng vẻ nghiêm trọng lắm, hỏi anh có biết hôm qua là ngày gì không?

– Ờ Tết Nguyên tiêu, nhà mình chả hương khói nghiêm cẩn còn gì?

– Âm lịch, âm lịch. Khổ lắm. Dương lịch cơ! 14 tháng 2, ngày gì, anh biết không? Tôi thật thà lắc đầu.

– Chắc lịch có ghi, nhưng không xem, ngày gì mà như mất sổ hưu không bằng?

Ngày lễ tình nhân. Phú qúy sinh lễ nghĩa đã đành, vừa nghèo, vừa già cóc đế rồi còn bày đặt. Là con Đào ấy. Anh xem đây này!

Tờ giấy ôly học trò, ngay ngắn chữ cô Đào:

Bần thần nhấm nháp vần thơ

Đắng cay thánh thót thấm tờ giấy trinh

Lòng ta miếu lạnh nhang đèn

Xin thơ là nắng rạng lên mặt người

                                                  Valetin xxxx

– Dào ôi! Tưởng gì. Cô ấy xả bớt năng lượng vào thú chơi tao nhã vậy có gì đáng trách mà cuống cả lên?

– Không! Không phải con Đào làm mà thằng Thiệp (tên chú phó cả đẽo lũa) bùa([1]) đấy, ghê không? Thảo nào con khỉ nợ mê muội, lú lẫn; không biết bao giờ mới gỡ ra được? Rồi hạ giọng thì thầm: Nó toàn ứng tiền trước, gửi về quê cho vợ đã, rồi làm cấn nợ sau, khôn vậy. – Chuyện! Ăn mòn bát thiên hạ, thằng thợ nào cầm dao đằng lưỡi? Em nghi là phường đào mỏ. Chứ nhìn lệch lắm, như hình chị em. Yêu đương nỗi gì, ba bảy hai mốt ngày lại không đánh nhau chia của, chia con; em chớ kể! Nó thì có cái gì, mỗi cái gậy thằng ăn mày? Tôi cũng đâm phân vân. Đào mỏ thì không phải rồi, cô ấy có của nả gì cho cam. Bỗng nhớ lại cái lần tranh luận về cái câu thành ngữ luận về sự thạo ăn, sành chơi mỗi nơi một khác. Gã cứ khăng khăng gái đoạn tang mới là đáp án. Còn vì sao nó đúng hơn, hay hơn, thì chỉ những ai tinh tế lắm, trải đời lắm mới cảm nhận được. Tôi ớn gã. Sành sỏi tình trường quá. Đào là con mồi cho gã thợ săn Đông Gioăng (kẻ săn gái nhà lành) mất thôi?

*

*   *

Hôm liên hoan cuối năm, vừa xuất được lô bàn tiệc lũa cho khách sộp đi EU, chủ hào phóng mở hầu bao, cho nốc bia hơi để bõ mấy tháng giời gù lưng ngồi bệt. Gió Lào rần rật khô rang, áo xống dần dần trút hết, thằng nào thằng nấy còn độc cái chíp đeo, không vướng khéo cũng đi, hát hò inh ỏi. Tôi khật khưỡng bước vào tolet giải quyết nỗi buồn, sững người: Thằng Thiệp ngồi đái, kéo vội quần ngố lên. Trời ơi! Ngã ba của nó bệch như đít ếch, chỉ gồ lên tý mủm thâm sì. Tôi lảo đảo gục vào vai nó. Văng vẳng câu được câu chăng: Ngã ba cô hồn… năm 88,… tròn 19 tuổi. Tôi nấc nghẹn.

*

*   *

Đã có ý giấu nhẹm chuyện ấy của Thiệp, không cho vợ biết, sợ hội buôn dưa lê rỉ tai nhau phức tạp lắm. Chẳng dè, nàng còn biết trước cả tôi. Có lẽ câu thơ ngày Valetin Thiệp khóc mối tình đầu bí hiểm, hay sự ngờ vực chàng lãng tử là kẻ săn rau, nên vợ tôi về tận quê chuyên chạm lèo, đục bệ để dò manh mối. Không ai khác, chính là người mà Thiệp nhờ nàng gửi tiền về dạo trước.

– Ái chà chà! Ai dám bảo em là cơi đựng trầu nào? Camera cơ à. Ghê thật. Em làm thám tử từ bao giờ vậy? Thì Enter!

– …Mấy tháng nữa em mới 18, biết gì đâu? Khuôn mặt đàn bà đầy đặn choán hết màn hình ửng đỏ, (chắc lần đầu bị soi gần) nghểnh nghiêng đi lộ cái lúm đồng tiền bên khóe miệng hé cười, dẫu được bàn tay rám nâu vâm váp che hờ. – Duyên quá! Quay nghề phết! Rất đặc tả.

– Đêm tân hôn khủng khiếp… Còn hơn dao kiếm. Em khóc thét lên… anh ấy phát hoảng, giật. Gẫy gục. Máu tóe nhòe. Anh đau đớn lăn lộn, em ngất xỉu. Họ buộc chặt hai đứa vào nhau vậy trong võng, thay nhau khiêng chạy bộ trong đêm lên trạm xá cấp cứu. Mãi sau này mới biết cái của anh là công trình thử nghiệm nhân đạo, chứ anh đã bỏ phần cơ thể quý giá ấy ở biên giới mấy năm trước cơ. Em bị lơ ngơ, nằm Trâu Quỳ mãi, hễ cứ thoáng thấy anh ấy là lại chết khiếp, ngất đi…

– Đây rồi! Anh ơi, chị chỗ anh Thiệp về thăm này… Ồn ào, tiếng tắt máy, mở máy, trên màn hình điện thoại hiện lên gương mặt đàn ông trạc ngoại bốn mươi, phúc hậu mà trầm tư.

– Hồi ấy, (Tiếng ông ta) Thiệp trở lại trại, bế tắc lắm, nặng trĩu cảm giác tội lỗi với vợ, toan tự tử. Cả trại xúm vào tỉ tê, an ủi động viên. Lính mà, thương nhau cực. Ai chả mong bù đắp tí gì cho nhà em đây này – quá thiệt thòi! Không chết người trai khói lửa, (như hát) mà chết người em gái hậu phương. May làm sao khi em đến viện tâm thần, chống tay nhảy như ếch, từ giường nọ sang giường kia, lại làm cô ấy cười đành đạch. Cao hứng, em trổ tài trồng cây chuối một tay, tay kia nảy phách như xiếc hài, hai ống quần rỗng gió bay phần phật, lúc phất phơ thõng xuống làm cả lũ đơ khoái chí cười ngặt nghẽo. Có đứa đái tồ tồ. (Cười lớn). Khi em về cô ấy giẫy đành đạch chạy theo níu áo, mắt đỏ hoe.

– Thiên duyên tiền định! Thiệp reo lên khi nghe em kể rồi ôm nhau nức nở khóc như mưa trong sung sướng tột cùng. Hắn bắt em tuần nào cũng phải đến thăm cô ấy. Cứu một người phúc đẳng hà sa. Lúc đầu em mới vui vui vì việc làm có ích. Cô ấy tỉnh dần. Rồi dần dà thấy không thể thiếu nhau thật. Em nhỉ? Như gì nhỉ, hồi ấy em bảo nhỉ? Ừ! Như ruồi dính “rựa” mít. (Cười rất to)

– Thiệp bỏ đi biệt. Anh ấy sợ gặp, bệnh nhà em lại tái phát, nên hơn chục năm sau, chúng em mới gặp nhau, ríu ran như ông bà Táo thời hiện đại. Chúng em chả đến nỗi khổ đâu chị, nhưng Thiệp bảo cùng số phận, để anh san chia khó nhọc mới an lòng… Lẽ nào chúng em lại trái ý để anh buồn.

– Anh ấy mà buồn (tiếng người đàn bà chen vào) thì em chết đi còn hơn (tiếng sụt sịt). Em mang ơn bạn gái nào của anh, đã /sẽ yêu thương, săn sóc anh ấy thay em… Em nhờ chị… (Khóc nấc, lí nhí không nghe rõ)

Im lặng. – Stop!

– Em hý hửng mang bí mật động trời ấy về, kín kín, hở hở, cứ lo mảnh trời của Đào sập; ai dè cô nàng đã biết hết. Lúc nãy gặp, em phác cử chỉ… không ý… thì có sao không? Con khỉ nó cười tít mắt, má đỏ lựng: Nồi méo vung méo xoay quanh cũng vừa, áp chặt lấy em, nóng hổi. Ồ! Mà nó mẩy mang ra đấy, thây lẩy bánh dầy, chứ không nhẽo nhèo giẻ rách đâu nhá. Khoe, anh Thiệp bảo, sướng nhất là được sống với người mình yêu, được làm nghề mình thích. Một điều anh Thiệp bảo. Hai điều anh Thiệp bảo. Mở miệng là thấy anh Thiệp rồi…

Đã nghe đâu đó, vợ chồng là nợ, tri kỷ là duyên.

Thật đó chăng?

Valetin 2014

[1] Động thái / Hình, chữ bí hiểm làm mê hoặc lòng người.

Error. Page cannot be displayed. Please contact your service provider for more details. (1)