Logo

Sóng đời dậy những trang văn

 

Nguyễn Thế Kiên kienlucbat

          Vùng Hải Hậu tỉnh Nam Định vốn đã được coi là miền địa linh của văn chương, sang thế kỷ hai mươi mốt, đất ấy chừng như vượng phát hơn với hàng loạt những tên tuổi đang sống và viết ở nơi đây liên tục xuất hiện trên các kênh văn chương uy tín trong và ngoài nước. Đặc biệt chỉ cần quét trong vòng bán kính chưa đầy ba ki-lô-mét tính từ trung tâm thị trấn Yên Định, sẽ ra một loạt tên tuổi văn xuôi đang nổi hôm nay, như: Mai Tiến Nghị, Lã Thanh An, Nguyễn Danh Khôi, Lê Hà Ngân… Văn nhân của Nam Định to nhỏ kháo nhao rằng: Mạch văn chương tụ về vùng cửa biển hình như đã được khai mở và đang dần trở thành trở thành một thứ “đặc sản siêu quý” của miền đất này. Nguyễn Bổng cũng là một phần trong nhóm “đặc sản siêu quý” ấy của miền chân sóng! Là một cây bút văn chương khá trầm lặng trong sự toàn diện, sau mấy mươi năm vừa làm việc vừa sáng tác, tất cả các mảng truyện ngắn, tản văn và thơ của anh đều đã có những thành công nhất định.

          Tập truyện ngắn Của thiên trả địa với độ dày hơn 200 trang, gồm14 truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Bổng mới viết trong mấy năm trở lại đây. Ngổn ngang giữa những trang văn ấy là những ngôi người lạc trong nổi chìm muôn mặt của cõi nhân gian. Đọc trong ấy thấy chỗ này là Bạn lính với những chi tiết đắt giá được xắt ra từ chiến tranh, tạo nên những kịch tính, cao trào liên tục từ thời chiến tới thời bình hôm nay. Chỗ kia là ngổn ngang những toan tính, trả vay sinh tử hiện rõ mồn một trên tấm lưới trời lồng lộng trong Chuyện ở làng Bòng. Chỗ này là Vết sẹo đỏ tấy trên gương mặt thời mạt đạo, mạt pháp với  ma quỷ khoác áo từ bi dồn đuổi kiếp người giữa trùng trùng bể khổ! Chỗ kia lại là một nhát Xẻ đôi trắng lạnh khứa vào tình mẫu tử, anh em ruột thịt…

20180620_0810233

          Mười bốn truyện ngắn xắt ra từ những góc khuất của đời, hiện lên những mảng tối sáng trung thực từ cuộc sống hôm nay bằng ngổn ngang những chi tiết, những tình huống vừa ảo, vừa thực khá đắt giá được nhà văn tạo dựng và lắp đặt trong tác phẩm của mình. Nếu như ở truyện ngắn đầu tiên Của thiên trả địa khép lại với mười ngón tay tuyệt vọng tóe máu của một nhân vật nguyên là tham quan, đang bới tìm vô vọng trong cái tổ mối tiền, rồi đào rỗng lòng đêm thành cái huyệt chôn người, thì ở Bạn lính người đọc lại được gặp mảnh “pháo đĩ” cắt đứt phăng một “viên ngọc rồng” của ông lính chiến tên Thìn, rồi cái “một mất, một còn” lắt lẻo về từ thuở chiến chinh kia còn tạo nên một cuộc chia ly và tái hợp của tình chồng vợ, cha con một người lính sau mấy mươi năm đằng đẵng. Có thể nói Nhà văn Nguyễn Bổng đã tạo dựng và chọn lọc và sắp đặt chi tiết rất kỹ càng, cẩn trọng trong từng tác phẩm, đọc truyện ngắn Xẻ đôi, hẳn người đọc sẽ rất ám ảnh với hình ảnh chiếc khăn tang trắng vắt ngang cỗ quan tài như vết cắt trên thi hài người mẹ già của một cặp song sinh…

          Mạch văn của Nguyễn Bổng níu người đọc ở cái cách đặc tả được tổ chức khá chặt chẽ bằng ngôn ngữ và thi pháp truyện ngắn hiện đại. Đây là một đoạn phim về sự trở dạ của người mẹ được quay cận cảnh bằng ngôn ngữ văn xuôi: “… Rồi một đêm cuối năm gió bấc rít từng cơn, căn nhà tranh vặn mình trèo trẹo trong cái rét căm căm, người đàn bà góa bụa trở dạ… trời đất quay cuồng, một luồng lạnh toát chạy dọc tủy sống, bụng quặn đau dồn, nước ục ra xuối xuống hai ống quần…”. ( Truyện ngắn Xẻ đôi- trang 82). Còn đây là đoạn đặc tả cái không gian của ông cụ “Người đất” cứ leo lẻo xanh lên giữa những khối bê tông và hóa chất các loại: “… Nhà lão giữa đồng, lấp ló trong lũy tre xanh, trông như hòn đảo rập rờn giữa sóng lúa vây quanh… Từ bình minh hồng mặt lá cho đến khi ông mặt trời đi ngủ không lúc nào vắng tiếng chim véo von ca hát. Tiếng chào mào đỏ đít như rắc đỗ, tiếng lũ vành khuyên ríu rít gọi con, tiếng đôi chích chòe luôn lắm mồm xòe xòe từ mỗi sớm mai, tiếng đôi chiền chiện ríu lưỡi mừng rỡ khi điều kỳ diệu là cái mỏ chim con đã đục thủng vỏ trứng đang giãy đạp chui ra…”. (Người đất, trang 54). Có thể nói, ngôn ngữ văn xuôi hiện đại đang tiến rất gần với ngôn ngữ thơ ca, nó cũng dự cảm, cũng tiềm ẩn ngàn vạn ý tứ mà người viết gửi gắm vào đấy, ở truyện ngắn Trung nghiện, tiếng tù và ốc rúc lên như báo hiệu cuộc hồi sinh của một con người: “Tiếng con ốc tu tu tu tu… âm âm như tiếng hú dài của đoàn tàu lan rộng mãi trên cánh đồng đang ngái ngủ…”. (Trung nghiện, trang 197).

          Bên những thành công, đọc Của thiên trả địa đôi chỗ thấy đâu đó còn vương chút rườm rà ở cách dẫn động trong mạch văn, rồi cách giải quyết tình huống luôn đầy đủ và rõ ràng quá mức cần thiết, khiến sự ám ảnh, sức gợi mở của truyện cũng vơi đi ít nhiều. Nguyễn Bổng thường hướng về đức tin tâm linh và thuyết Nhân – Quả để giải quyết cao trào và kịch tính của truyện. Cách làm ấy không mới, nhưng với những cây bút đã quen với những cái kết đầy đặn và có hậu của văn chương, thì luật hình và công lý phần lớn sẽ được dồn lên đôi vai của tạo hóa. Đây là một giải pháp có thể chấp nhận được để tạo nên sự bình an cho cả văn chương và người tạo ra nó giữa một xã hội đang xô bồ, trồi sụt đầy những bất trắc hôm nay.

K.L.B

Hà Nội, 05/2018