Logo

LƯU HỒ TỬ

LƯU HỒ TỬ

anh-luu-ho-tu

Tác giả: Lưu Hồ Tử

Tên khai sinh: Nguyễn Văn Thi

Sinh năm: 1947

Địa chỉ: Yên Viên – Gia Lâm – Hà Nội

Hội viên CLB thơ Cung VHHN Việt – Xô

Hội viên CLB thơ Lục bát Nhị Hà, Long Biên, Hà Nội

Tác phẩm: Màu da người là chùm thơ gồm những bài thơ được viết thể đoản thiên và được in lần đầu ở chuyên đề Dặm ngàn Đất Việt số 12. Trong bài viết này, Phòng Văn học và lịch sử Đất Việt xin gửi tới bạn đọc lời giới thiệu và chùm thơ Màu da người của tác giả Lưu Hồ Tử.

MÀU DA NGƯỜI HIỆN LÊN MẶT CHỮ

Du Tử Mỹ

Đến với thơ, tôi thường tâm niệm rằng: Khi người ta đã có duyên thơ, thì dẫu ở lứa tuổi nào cũng có thể sinh hạ được thơ, có thể tạo đột biến cho thơ, bởi vậy, khi đọc bản thảo tác phẩm thơ của bất cứ ai, tôi luôn dặn mình thận trọng. Trong những trang bản thảo của Chuyên đề Dặm ngàn Đất Việt lần này, có một tập thơ nhỏ với tựa đề Màu da người, nội dung gồm hai mươi tám bài tứ tuyệt đă khiến tôi chú ý. Hai mươi tám vuông thơ ấy của Lưu Hồ Tử, một cây bút thơ Nam Định gốc, hiện đang lặng lẽ sống và viết ngay giữa lòng Hà Nội này.

Là một người biết về Hán văn, nghe bảo ông có đọc sâu về Dịch lý và Mệnh lý, vậy chắc chắn con số hai mươi tám bài thơ mà Lưu Hồ Tử tuyển in đợt này không thể nào là một sự tình cờ trùng lặp. Con số 28 là số của trời đất, một bài tứ tuyệt Lục bát hay Đường thi (loại 7 chữ) đều được cấu tạo bằng 28 chữ, chỉ cần hai mươi tám chữ thôi mà đủ gói vạn vui buồn trong trời đất!

Lưu Hồ Tử sáng tác khá nhiều thơ nhưng rất ít xuất hiện trước công chúng. Thơ ông thường ngắn gọn, dồn nén, kiệm chữ, thấp thoáng nét tìm tòi, sáng tạo. Này đây, một cơn bão thời hiện đại: Kháo nhau bão đổ tháng Ba/ Ngỡ là bão gió, hóa ra bão tiền. (Bão). Còn đây là một nét nhấn trong thời mở rộng đô thị và “phố hóa” dồn dập: Hun hút xé chiều vá vào mai/ Cuối làng xóm Chợ rách làm hai/ Xênh xang quá nửa vươn lên phố/ Nhếch nhác mảnh kia, áo lão chài. (Đường tàu). Đây nữa, một mối duyên “muối sổi”, ngỡ chín vội, ngỡ nhanh quên, mà ám ảnh ông đến độ này: Giá đừng muối sổi duyên trời/ Thì đâu thoi thóp một thời uyên ương/ Đa đoan hạ huyệt luân thường/ Đứt dây Nguyệt Lão còn vương… giá đừng. (Giá đừng…)

Vài dòng thi lộ trước những bài tứ tuyệt thơ trong tác phẩm Màu da người của Lưu Hồ Tử, mừng cho ông đă có đủ độ tin để thơ ấy được về bên bạn đọc. Giữa ma trận thơ hôm nay, cách mà ông chọn để cả tập thơ Màu da người được tiếp cận với bạn đọc qua tờ chuyên đề văn chương Dặm ngàn Đất Việt này, đủ thấy cái khác thường, và sâu sắc ở Lưu Hồ Tử.

D.T.M

BÃO 

Bán mua ngột ngạt quá chừng

Thượng vàng hạ cám đùng đùng rú ga

Kháo nhau đổ bão tháng Ba

Ngỡ là bão gió, hóa ra bão tiền.

 

 

BẢO CHÁU*

Tặng Lê Thùy Linh

 

Bé nép vào ông thấy đám tang

Người đưa nhộn nhạo loạn bên đàng

Thây ma đâu đáng cho ta sợ

Tránh những tâm hồn đã chết đang…

_______________

(*) Tìm từ điền vào dấu “…” cho hợp ý.

 

CHÙA BÊN QUÁN

 

Ngổn ngang những ngắn cùng dài

Gơ dồn khoảng vắng mơ ai khép chiều

Đục trong, đóng mở, ghét yêu

Lỏng buông tay gió để diều no dây.

 

CHUYỆN XƯA

 

Mơ chèo đọng ngực Mỵ Châu

Qua cầu, điệu sắp qua cầu, áo rơi

 

Hổ danh nông nổi giếng khơi

Để đời tráo trở đến cơi đựng trầu

Nga y* oan nghiệt nhịp cầu

Miện vàng đáy biển hận sầu ngàn thu…

___________

*Nga y: áo lông ngỗng.

 

 

CỔNG MỞ

 

Để cho gió đấy vào đây

Ừ trăng bớt úa, ừ mây đỡ già

Có điều đổ cả gốc đa

Lo cái cột nhà liệu có lung lay.

 

 

CON TRAI

(Theo Nguyễn Huy Thiệp)

 

Với tình yêu tựa đi tìm lửa

Để trái tim nồng lúc gió đông

Bếp chẳng cài then hay ngỏ cửa

Cời trong tro nguội thấy than hồng.

 

CHÍ PHÈO SAY

 

Rượu vào vỗ ngực thách trời

Chửi người… hắn lại gọi đời đến nghe

Mảnh chai rạch nát trưa hè

Đêm hiền, Thị Nở miệng toe toét cười.

 

DẶN CON

 

Hội trường nhạc lạ, màu kỳ

Bục cao, ghế thấp, ngực ít, miệng ca

Hở hay kín, kệ người ta

Miền thiêng, vùng cấm liệu mà viễn chi (*).

_____________

*viễn chi: thành ngữ “kính nhi viễn chi”.

 

 

ĐƯỜNG TÀU

 

Hun hút xé chiều vá vào mai

Cuối làng, xóm Chợ rách làm hai

Xênh xang quá nửa vươn lên phố

Nhếch nhác mảnh kia, áo lão chài.

 

GIÁ ĐỪNG

 

Giá đừng muối sổi duyên trời

Thì đâu thoi thóp một thời uyên ương

Đa đoan hạ huyệt luân thường

Đứt dây Nguyệt Lão còn vương… giá đừng.

 

 

HOA CẢI

 

Vàng rực một trời đưa gió lay

Mùa gom xao xuyến gọi sum vầy

Tóc xanh xanh xơa giăng giăng lá

Lắng đọng tình ai, vương đắm say.

 

HOÀI NIỆM

 

Tựa thơ ấu quay xa

Nâng thanh xuân dệt vải

Thơm sóng vàng hương cải

Dịu tóc xanh tình em.

 

 KHÚC DẠO ĐẦU

 

Một nốt cao đanh xé thái ḥa

Ba giai điệu xót nỗi vi ba*

Trong khuông nhạc ấy ngầm day dứt

Nhịp phách nghe lòng tiễn cơi xa.

____________

*vi ba: sóng ngắn.

 

LO XA

 

Nếp lại đắt vài phân gọi Tết rồi

Lá dong gầy mặc cả măi không thôi

Ra Giêng hơn kém lòng thao thức

Tháng Chạp xa chồng, gió bấc vã mồi hôi.

 

MƯA DẦM

 

Bởi nghiêng nên hạt cứ rơi

Phía sau rả rích những lời vàng thau

Giọt tình chẳng ngớt chẳng mau

Tan trong lòng đất mà đau cơi trời.

 

MÀU DA NGƯỜI

 

Gió bấc lồng lên đẩy rét sang

Lòng lặng tái tê, xoáy phũ phàng

Những tưởng đến đây găm lạnh lẽo

Sửng sốt trời nam nắng chói chang.

 

 

MỘT THOÁNG VÔ THƯỜNG

“Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết

Trong gặp gỡ đă có mầm ly biệt”

(Xuân Diệu)

 

Ngỏ lòng, tạm biệt kéo về ngay

Thuở hợp hôn, ly biệt đến tụ bầy

Rồi tử tức, mom men miền từ biệt

Loạn ngôn, vĩnh biệt đă sum vầy.

 

MẶT SAU NGỌN GIÓ

Mặt sau ngọn gió tháng Ba

Nồng oi ngày Tám lá hoa thay màu

 

Nảy mầm nên hạt chịu đau

Vui cành trĩu quả để sầu cho thân

Ấm nồm trời, nhớp nháp chân

Đầy bồ, quang gánh găy dần mấy phen.

 

NGHĨ LẠI

“Em trao mình thỏa ước ao

Dấn thân lạc lối mưa rào hoàng hôn”

(Hoàng Cầm)

 

Từ thời chửa sắm đài gương

Câu ca đã định đoạn trường vu quy

Đường xa tắt lối kịp thì

Lòng xa vội vã khác chi vô thường.

 

 

NỘI HÀM*

 

Dừng lại khen chê ở kiếp người

Đi cùng nhăn nhó với vui tươi

Trăm hay nghìn dở đời quy lại

Một cái nghiến răng hoặc mỉm cười.

________________

(*) Nội hàm và ngoại diên cùng bản chất khác hình thức biểu hiện.

 

NGƯỠNG VỌNG Ê-VƠ-RÉT

 

Đạo siêng nghiêng nợ trần ai

Đời năng nhặt trả cho hoài thế gian

Trèo lên tới đỉnh đã nan

Trụ vào được đó bàng hoàng dễ đâu.

 

Ở HỘI ĐỀN ĐÔ*

“Lịch sử còn tùy ở góc nhìn”

(Danh ngôn)

 

Ứa đầy xuân, tiếc tháng Ba

Ngàn năm đâu đă phôi pha lý tình

Rót quyền vào lẽ trời sinh

Để say vương miện, đắm mình trần gian.

 

 

_________________________

(*) Đền Đô: Thờ 8 vua Lý tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh

 

 

 QUA HÀ GIANG

 

Quản Bạ váy hoa gơ Cổng Trời

Chút tình đây – đấy bám chơi vơi

Tiếng gà! Đâu đă bình minh nhỉ?

Mèo Vạc vầng hồng tí tách rơi…

 

 

 

 TRĂNG NON HAY GIÀ

 

Mồng ba nằm khểnh dòm sông

Hăm bảy phập phồng khuyết mặt giỡn mây

Thong dong một khóa cơm thầy

Mà ngàn năm để non đầy… già vơi.

 

THỊ NỞ NGỦ

 

Vắt vẻo vành trăng trĩu ngọn tre

Thị nằm cong cớn cả đêm hè

Gió nồm chạm yếm phô… sờ sững

Hừng hực Chí Phèo dốc cạn be.

 

 VÔ ĐỀ

 

Trận gió cuồng thu sợ lá vàng

Đò đầy ngại đợi khách sang ngang

Mưa dầm lo lắng người thưa áo

Phép tắc vua ban ớn lệ làng.

 

 VÔ THIỀN

 

Mải mê bản ngã hồng trần

Loay hoay hào phú tha nhân dặm trường

Gác chèo, leo bến Giác Vương(*)

Chợt trông Bờ Ngộ(**) người đương xuống thuyền.

 

_________________

(*) Bến Giác Vương: Đất Phật.

(**) Bờ Ngộ: Nơi còn u mê.

 

 VIẾNG BÁC GIÁP

 

Đi giữa lòng người lúc giữa trưa

Cuối trời nắng nghẹn, níu trời mưa

Nỗi đau nhắn lại đừng đau nữa

Đưa tiễn thôi đành, chớ tiễn đưa.

 

Lưu Hồ Tử

Idc1998.com
This domain has recently been listed in the marketplace. Please click here to inquire.