Logo

Chữ “tình” rộng mở trong Đêm trăng

 

Phạm Nguyệt Minh

Phòng Văn học & Lịch sử Đất Việt

 

          Một “tập thơ đôi” tình cờ đến với chúng tôi vào sớm tháng tư Hà Nội. Sở dĩ chúng tôi yêu mến gọi bằng hai tiếng “ thơ đôi” bởi đó là tập thơ đầu tay của hai tác giả – hai con người gắn kết với nhau không chỉ bởi mối nhân duyên chồng vợ, mà còn bởi duyên phận với thơ ca. Họ viết về nhau, về gia đình, về quê hương đất nước, về những con người trong cuộc đời thực bằng một niềm yêu mến chân thành và dung dị hơn bao giờ hết. Mối lương duyên của hai con người ấy là khởi nguồn cho sự ra đời của bút danh Nguyên Cước và tập thơ mới mang tên Đêm trăng mà chúng tôi muốn dành riêng để giới thiệu với quý độc giả xa gần: “Nhân tình thế thái em ơi/Vui sao thơ phú thảnh thơi tuổi già/Đôi mình như hạt mưa xa/Rơi đâu vẫn giữ ta là giọt trong”- (Đôi mình)

          Thơ trong Đêm trăng là những sáng tác bắt nguồn từ đời sống, nên chất phác, hồn hậu và gần gũi như chính hơi thở vốn  có của nó. Người làm thơ, rất tự nhiên gieo vào đó cái tình chứa chan nồng đượm – là tình yêu, là tình nghĩa, là tình người…, tất cả cùng hòa quyện, cùng bồi đắp để cho ta một Đêm trăng “ngời sáng” như thế: “Tình thơ tỏa ngát hương say/Nghĩa tình thôn xóm vui vầy bên nhau/Thơ em bắc nối nhịp cầu/Tìm về quá khứ trước sau vẹn toàn/Duyên thơ sâu nặng nước non/Tình người chan chứa nét son sáng ngời.”(Đêm trăng)

          Nói về chữ “tình” trong tập thơ này, trước hết phải nói đến dòng chảy của tình yêu thương gia đình. Hình ảnh “mẹ” được khắc họa đậm đặc trong những trang thơ chất chứa nỗi niềm sâu nặng: “Mẹ già khó nhọc triền miên/Nuôi con tần tảo mẹ quên tháng ngày/Ngược xuôi nam bắc đông tây/Gian nan chẳng quản gió lay chẳng sờn”(Lời ru của mẹ). Nỗi lòng về người mẹ già tần tảo dường như chưa bao giờ nguôi bớt trong tâm thức người làm thơ ấy, cho nên những yêu thương xen lẫn với xót xa cứ thế ngấm dần vào thơ ca, rất đỗi tự nhiên và hết mực chân thành : “Hôm nay con cháu sang nhà/Vắng hình bóng mẹ đi ra đi vào/Lòng con cứ thấy nao nao/Lược sừng mẹ chải ngày nào còn đây/Bếp còn treo chiếc gầu dây/Đầu hè chum cổ, cối xay đã mòn/Võng đay lặng gió bên con/Lời ru của mẹ vẫn còn sớm hôm”(Cho con trái ngọt). Hình ảnh thơ xuất hiện tiếp nối và dồn dập trong dòng chảy thơ, dòng chảy cảm xúc của người con không còn mẹ: “Bâng khuâng nhớ mẹ mẹ ơi!/Âm dương đôi ngả lệ rơi âm thầm”. Đó là dòng chảy của mất mát, của trống trải, của đau thương cứ xâm chiếm cõi lòng kẻ làm thơ khi nhìn vật mà nhớ người. Nhưng như thế để ta hiểu được rằng, “mẹ” có bao giờ mất đi, “mẹ” vẫn luôn ở đó, ở trong “con”, trong “lược sừng mẹ chải”, trong “chiếc gầu dây”, trong “võng đay lặng gió”, “mẹ” về trong lòng “con”, trong “chum cổ, cối xay đã mòn”. Xúc động lắm lúc đọc nên những dòng thơ ấy. Nỗi đau, niềm nhớ, những nuối tiếc khôn nguôi… ôi tất cả những cảm xúc ẩn khuất sau từng câu chữ, từng vần điệu, từng hình ảnh thơ, ta đều như thấu cảm cùng người viết. Cho nên khi nói rằng “tình” trong Đêm trăng đã lắng đọng và lay động đến tâm hồn, đến cái tình của người đọc thơ là vậy.

          Ngời sáng lên trong Đêm trăng còn là tình cảm vợ chồng, tình yêu đôi lứa quấn quýt mặn nồng. Thơ là cầu nối tâm hồn của hai tác giả, và Đêm trăng chính là đứa con tinh thần mà họ dụng tâm hun đúc trong suốt nhiều năm. Tác giả, ngay ở đầu tập thơ đã dành cho người bạn đời, người bạn thơ của mình những vần thơ thấm đượm yêu thương: “Xế chiều bóng ngả bên em/Đậm đà quấn quýt như men rượu nồng/Ơn trời xe mối tơ hồng/ Nhân duyên một chút nở bông hoa chiều/Vần thơ chắp cánh sáo diều/ Thả hồn thơ phú sớm chiều bên nhau” (Xế chiều). Đó là sự tâm đầu ý hợp về tình cảm, về tâm hồn của hai con người hết mực chân phương và hồn hậu, những vần thơ tình bay bổng không chút gượng ép được dịp thăng hoa: “Ta đi giữa phố phồn hoa/ Dấu yêu ngày muộn ngỡ là giấc mơ/ Nụ hôn ngày ấy đâu ngờ/ Còn vương lúng liếng bên bờ yêu thương” (Ánh mắt). Mở từng trang thơ, ta như mở ra cả bầu trời tâm tư tình cảm họ dành cho nhau vậy. “Anh nhớ ngày xưa độ tháng này/Lá thu xào xạc gió vờn mây/Bên dòng sông Nhuệ nước đang ngủ/In bóng đôi mình say đắm say” (Anh nhớ), “Bên sông bữa ấy trăng quê/Bồi hồi âu yếm hẹn thề sánh đôi/Tràu têm cánh phượng đỏ môi/ Trao nhau ánh mắt đầy vơi nụ cười” (Trầu têm cánh phượng) “Tình” – khi đương trẻ thắm thiết ngọt ngào bao nhiêu “Bên em nghiêng cả canh trường ngất ngây”, khi về già lại càng thêm quấn quýt nồng đượm bấy nhiêu “Em đi bế cháu mới sinh/ Để anh sớm tối một mình quạnh không/ Cửa nhà trống trải mênh mông/ Bâng khuâng ra ngõ ngóng trông em về/… Em đi bế cháu chưa dài/Mà anh cứ ngỡ đã vài ba năm” (Gió mùa). Có thể nói, tình yêu trong Đêm trăng, không chỉ là chút ngây ngất ban đầu của tình yêu đôi lứa, ở đó còn đọng lại rất nhiều niềm yêu, niềm thương, nghĩa vợ, tình chồng – những điều không phải ở tập thơ nào ta cũng dễ dàng tìm thấy. Chính bởi điều này, mà chữ “tình” đã được nâng thêm một tầng giá trị hơn khác.

          Cùng với tình cảm gia đình, cùng với tình yêu đôi lứa, là chút tình hướng về quê hương đất nước. Dòng suy tưởng, mạch cảm xúc của người làm thơ chảy trôi theo từng bến quê nghèo, theo gốc đa, giếng nước. Ý thơ chất chứa nhiều trăn trở, hoài niệm: “Bồi hồi gợi nhớ làng quê/ Lũy tre, giếng nước, bờ đê tình người” (Trở về quê mẹ), “Xa quê nhớ cội khôn nguôi/ Mình về quê mẹ, mẹ vui ấm lòng/ Quê hương chín nhớ mười mong/ Dòng sông bến đục bến trong bao đời” (Ùa về ký ức). Thơ là nỗi lòng, thơ là chiêm nghiệm, thơ là để tỏ bày, nhưng không vì thế mà thơ xa rời thực tế. Người làm thơ nhìn vào cuộc đời thực rồi nhờ vần điệu mà tạc nên thơ, cho nên ở Đêm trăng, tình yêu với đất nước hiện lên rất chân thực và cụ thể. Tác giả gửi “tình” trong những bài thơ viết về biển đảo, về ngày giải phóng thủ đô ta, về dải Trường Sơn hùng vĩ oanh liệt, về những người con anh hùng của đất nước. Ở đó, quá khứ đan xen với hiện tại, nỗi suy tư lại như dày thêm: “Giờ đây đất nước đổi thay/ Quên sao bão lửa những ngày gian truân/ Chiều thu nhớ bạn xa gần/Nhớ người đã khuất vạn lần thương đau” (Trường Sơn huyền thoại), “Giờ đây khép lại chiến tranh/ Biết bao liệt sĩ những vành khăn tang” (Hiến dâng tuổi xuân). Ở tác giả, một người thơ, và hơn hết là một người lính, có những điều dù đã thuộc về quá khứ, nhưng lại giống như hồn cốt, máu thịt mình, thật khó lòng để thôi nghĩ đến, và càng không thể nào quên.

          Biết rằng chỉ với đôi dòng ngắn ngủi không thể nào mở hết những lớp lang sâu sa dồn nén của chữ “tình” tuy ngắn mà dài đến vô chừng trong Đêm trăng, nên người viết chỉ xin gạn lọc đôi điều nổi bật nhất, để bạn đọc có thêm những vùng trời khác để khám phá, để cảm nhận khi đi vào từng câu chữ trong tập thơ, tuy không quá dày về bề rộng, nhưng lại lớn về chiều sâu này.