Logo

Câu chữ tự đốt mình trong thơ Lại Hoài Phong

a
Một bên là lời dân gian, một bên là sự hiện đại và kiệm lời đến cùng kiệt. Tập thơ Mạch ngầm của Lại Hoài Phong mở ra rất nhiều sự liên tưởng cho người đọc. Thơ ông là sự trăn trở nghiêm túc, câu chữ trong thơ được nén, được luyện kỹ càng, mỗi giọt thơ ông được chưng cất rất công phu. Phàm đã là loại thơ công phu như thế thì ý tứ và ngôn ngữ biến ảo lắm. Bởi vậy, khi đọc xong bản thảo Mạch ngầm, người viết bài này xin có vài dòng cảm nhận, ngõ hầu chia sẻ cùng bạn đọc một cách tiếp cận Mạch ngầm để khai mở thêm những giá trị nghệ thuật trong không gian thơ Lại Hoài Phong.

Có một nhà phê bình đã nhận xét: Thơ là Ngôi Lời. Để thơ thật sự thành Ngôi Lời, người làm thơ phải đào đãi, tuyển lựa câu chữ thật tỉ mỉ, rồi lại phải nhờ năng khiếu trời cho để lắp đúng vị trí, đặt vào đúng huyệt đạo của câu thơ, có như thế câu thơ mới mở mắt, mới cất cánh bay được về miền nghệ thuật. Người làm nghệ thuật nghiêm túc không bao giờ dễ dãi trong cách sử dụng câu chữ. Thơ Lại Hoài Phong, bao trùm lên tất cả tập thơ Mạch ngầm của ông là sự kiệm lời, có cảm giác mỗi câu, mỗi chữ phải gồng mình lên dưới sức nặng của ý tưởng:

Thăm thắp đứng nghiêm

Cho đêm

Đi về sáng

(Cột đèn).

Cả bài thơ có chín chữ, mỗi chữ mang một gương mặt khác nhau để biểu lộ sự đa nghĩa của ý thơ. Bài thơ viết bằng cái vỏ tự sự, nhưng nội lực của câu chữ gợi cho ta những sự liên tưởng về phận người, về cốt cách, phẩm chất của người quân tử giữa cái xô bồ, cái ma quái, đen tối của cuộc người. Ở bài Xưng hô, ta giật mình vì sự sắp đặt tài hoa của ông:

Bình thường gọi là rau

Đau đầu kêu ngải cứu.

Câu thơ dễ đến mức tối giản, nhưng nhìn lên cái đầu đề, cái tên của sự việc, ta mới bắt đầu nghi ngờ… Hình như sự dễ dãi cố tình kia chỉ là cái vỏ, còn “vàng ròng, bạc nén” thì nằm ở mãi thẳm sâu kia, phải đào xới, phải có “mật đồ” mới mong chạm được ý tưởng người viết định diễn đạt. Ở bài này một bản chất mà có hai khái niệm khiến ta giật mình trước cái lối dẫn dụ của tác giả. Đọc bài thơ Xưng hô, bỗng nhớ tới Thường dân của nhà thơ Nguyễn Long: Đông thì chật, ít thì thưa/ Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân/ Quanh năm chân đất đầu trần/ Tác tao sau những vũ vần bão giông/ Khi là cây mác, cây chông/ Khi là biển cả, khi không là gì. Thơ hay là ở sức gợi, là ở sự nén của ngôn ngữ. Khi ngôn ngữ được nén tới mức rắn đanh thì tự nó sẽ bốc cháy và bén thẳng vào sự liên tưởng của các tầng suy nghĩ cao hơn, sâu hơn nơi bạn đọc:

Nén chữ là cách làm không phải mới trong thế giới thi ca, nhưng nén chữ một cách tự nhiên, dung dị như Lại Hoài Phong kể cũng không nhiều lắm trong giới nghệ thuật hôm nay:

Rễ cắm xuống đất

Ngọn cất lên trời

 (Nhờ)

Ừ, quen thuộc quá, nhờ rễ cắm xuống đất hút sữa của đất đấy thì ngọn mới ở ngôi cao vút trên kia. Cái ơn ấy, cái nguyên lý ấy giản dị vậy thôi mà sao đời khó nhớ đến vậy. Hay là từ sâu thẳm trong bản chất CON NGƯỜI cứ khi ở ngôi cao là quên ngay lực lượng đã tôn cao mình? Trời ơi, đóa sen kia có nở đẹp đẽ, có cao sang nhụy vàng, lá xanh, cánh hồng… là nhờ đâu? Lẽ nào lại quên những cái rễ đang chúi đầu hút sữa của bùn đen? Đọc thơ Lại Hoài Phong xin cẩn thận với cái đầu đề của bài thơ. Thơ ông, chính cái đầu đề đã là một câu thơ. Phải giải mã thơ ông từ cái đầu đề của bài thơ thì mới mở được những tầng nghĩa chồng chéo nhau cài trong mấy chữ ít ỏi của bài thơ:

Càng nện

Càng nổi tiếng

 (Trống)

Điều dễ nhận thấy nhất trong Mạch ngầm là tất cả các bài thơ đều bắt ta phải suy ngẫm, những tứ thơ cứ lởm chởm ý tưởng, câu chữ cứ sắc lạnh cứa vào vùng liên tưởng của người đọc:

Áo gì cũng thế

Treo lên đinh

Lưng quay lại phía mình

 (Nghĩ về áo)

Áo mà chẳng phải áo, nó là cái vỏ bọc của con người, từ xưa đến nay con người vốn quen gọi nhau bằng cái áo, cái mác của mình. Câu thơ của Lại Hoài Phong bóc tách rành rẽ cái nguyên lý ấy. Thơ ông có những bài từ sự chiêm nghiệm, triết lý đã chuyển thành những khái niệm độc đáo. Những tìm tòi ấy, những vật vã ấy chính là những nét tài hoa của Lại Hoài Phong. Thơ ông như “Cổ tích vừa đi vừa sàng chuyện”. Cái hay cái lạ của thơ ông tất thảy đều sinh ra từ truyền thống của thơ Việt. Đọc bài thơ viết về con sông của ông mà ngỡ như những lời kệ, vừa triết lý vừa đầy chất truyền thống lại đẫm màu hiện đại:

Đôi bờ xanh

Điều hành hướng nước

 (Sông)

Bài thơ giản dị, tròn vành vạnh như một thực tế mà ngân nga lời dạy của các bậc thánh nhân: Dân là người làm nên tất cả. Đôi bờ xanh kia là thảo dân dưới mọi thời đại, tương lai một đất nước sẽ về đâu, tương lai của một dân tộc sẽ tươi sáng hay tăm tối đều tùy thuộc vào lòng dân cả…

NGUYỄN THẾ KIÊN

Error. Page cannot be displayed. Please contact your service provider for more details. (19)